Tổng hợp kỹ thuật làm vườn

Tổng hợp kỹ thuật làm vườn Tổng hợp kỹ thuật canh tác cây điều tổ chức tham quan

29/05/2018

tui nghĩ chỉ cần trồng mối là được, tui để ý cứ hễ có mối là có nấm, vì nấm sinh sản bằng bào tử( thứ này trong không khí vô cùng nhiều, báo tử sinh ra ở mũ nấm, mà cái mũ nấm khi xòe thì to chà bá, chắc được cả triệu bào tử chứ không ít), mà trồng mối thì vô cùng đơn giản, vào đầu mùa mưa, mối cánh sẽ bây ra cả hàng ngàn con, cứ 2 con đi với nhau sẽ thành 1 tổ, nhưng nếu để tự nhiên thì xác suất thành công có lẽ dưới cả 1 phần ngàn, vì những lý do: ko bắt cặp được, bị kiến, cóc nhái ăn, vị trí ko thuận lợi, mưa ướt...do đó nếu ta chủ động tạo điều kiện: đào xới đất ở nơi ta muốn, bắt cặp chủ động rồi bỏ mối xuống đó, nên tạo một lỗ tại đó trước đẻ mối chui xuống nhanh khỏi bị ăn mất, nếu mưa to thì nên che( che với diện tích nhỏ đẻ đất vẫn có nước và ẩm) , nên dùng cái ấm đẻ đựng mối, rót ấm như rót nước là mối sẽ rớt ra, 1 nơi nên cho 4, 5 con phòng chết bớt, vấn đề là chọn lọai mối vì không phải mối nào cũng làm được, mà mối nào thì cũng có mối cánh, cho nên ta nên ra tại nơi mà đã có nấm những năm trước vào những trận mưa đầu tiên, ngày đầu ko được thì kiên trì những ngày sau, hoặc bắt tại nhà khi mối bay vô, hên xui, cẩn thận rắn rết, mố cánh của mối làm nấm hơi nhỏ , không to như mối càng, mối càng ( môí trong hình thứ 3) làm nấm năng suất thấp, loại mối làm nấm hiếm khi xây ụ, nhưng âm thầm dưới mặt đất suốt đời
đó là kinh nghiệm hơn 10 năm đi lấy nấm của tôi, tôi đã nuôi mối thành công, nhưng loại mối mà tôi thử nghiệm là mối càng vì lúc đó là tháng 8, chỉ còn mối càng bay vào nhà, và bây giờ thì tôi đã đi học xa ở thành phố, ko còn cơ hội, có thể phải sau 2 đến 3 năm mới biết được kết quả vì tổ mối lớn mới có nấm,
nấm thường mọc nhiều nhất ở nơi đất dày, xốp, dưới tán điều hoặc cao su
nếu thành công thì xin nhắn lại cho tôi
lấy cái thau nhôm dọi đèn vào là ta sẽ bắt được rất nhiều mối

29/05/2018

TỔNG QUAN VỀ NẤM MỐI

1.1 Tên khoa học

Nấm mối (danh pháp khoa học: Termitomyces albuminosus) là loài nấm thuộc họ Lyophyllaceae. Loài này từng được đặt tên làCollybia albuminosa.[3]

Tên gọi nấm mối vì nấm chỉ xuất hiện ở nơi có nhiều mối sinh sống. mối ở đây là loại mối đất chứ không phải mối sống trên cây. Mối đất làm ổ to như trái dừa khô, hình dáng từng hốc đất, ổ mối đất màu trắng hoặc hơi ngả vàng. nấm mối xuất hiện vào đàu mùa mưa, khoảng từ tháng 4 đến tháng 6 hàng năm. Thường nấm mối xuất hiện ở nơi đất cao vì mối không thể làm ổ ở nơi đất quá ẩm ướt. Nấm mối màu trắng, gốc hơi ngả vàng. Muốn biết chắc chắn đó có phải nấm mối hay không thì chỉ cần đào khoảng đất nhỏ xung quanh, nếu thấy có mối đất sinh sống thì chắc chắn đó là nấm mối.

1.2 Sự hình thành nấm mối

Nấm mối được hình thành từ meo đặc biệt của một loại mối chuyên sinh ra nấm. Mối này hình thù giống như bọn mối ăn gỗ thông thường nhưng lại làm tổ dưới mặt đất, nơi gò cao. Tổ nấm mối là những mô xốp cỡ chiếc tô. Trong đó có vô số mối gồm: mối "chiến binh" với đôi càng ở miệng sắc to, cắn rất đau; mối thợ chuyên sản sinh meo nấm cùng nhiều mối con… Một gò nấm có vài chục tổ như vậy. Các tổ liên kết nhau bởi những con đường hầm nhỏ. Mối chúa ở tổ trung tâm nơi sâu nhất, chuyên việc sinh sản. Nó to cỡ đầu đũa dài hơn 3cm, thân mềm, màu trắng đục, các chân thoái hóa, di chuyển chậm chạp.

Vào mùa nấm mọc, bọn mối thợ lăng xăng tạo meo quanh tổ, chờ ngày nấm rẽ đất mọc lên. Khởi đầu meo phát triển trong tổ thành nhiều mầm nấm trông như những mũi tên trắng xóa, rất đẹp. Những mầm nấm này hút chất dinh dưỡng trong tổ nấm để lớn dần và rẽ đất mọc lên. Các cụ già gọi giai đoạn này là "nấm thâm kim", "nấm nứt đất" chưa thu hái được vì cái nấm còn rất bé. Vài ngày sau, nấm phát triển thành "nấm búp" có hình như cây dù chưa mở lên trông rất hấp dẫn. Sau đó, tán nấm xòe ngang ra nở trọn vẹn gọi là "nấm mở" hoặc "nấm tán dù". Ngày sau, nấm héo úa, hư hoại dần, gọi là "nấm tàn". Nấm tàn người ta không ăn được, nhưng là món ăn khoái khẩu của chính bọn mối tạo ra nó và các loài côn trùng.

Các gò nấm mọc với chu kỳ một năm khá chính xác. Ví dụ có gò nấm tìm được, nhổ vào ngày rằm năm nay thì đúng ngày ấy năm sau ra đó tìm ắt thấy có nấm.

1.3 Kỹ thuật thu hoạch

Mỗi năm, thời điểm từ khoảng mùng 5 tháng 5 âm lịch, vùng sông nước miệt vườn đồng bằng sông Cửu Long bắt đầu vào mùa nấm mối. Thứ nấm trời cho này nếu ai đã từng thưởng thức, chắc khó mà quên được hương vị độc đáo của nó. Mùa săn nấm mối Khi xuất hiện những đám mưa nặng hạt kéo dài vài ngày thì trời chớm nắng – cũng là lúc nấm mối bắt đầu mọc. Mùa nấm mối kéo dài từ khoảng đầu tháng 5 đến nửa tháng 6 âm lịch hàng năm, rộ nhất vào đầu tháng 6. Đây là loại nấm tự nhiên, con người không thể trồng được và thường xuất hiện gần những tổ mối đất trong vườn. Loại mối này làm tổ nơi đất cao ráo, có nhiều cây mục. Khi trời mưa dầm kéo dài nhiều ngày, loại mối này tiết ra một chất men xung quanh tổ, đến khi trời nắng thì nấm từ những nơi này sẽ mọc lên thành từng đám, có khi kéo dài vài mét. Biết được đặc điểm này, người dân đi săn nấm mối phải dậy từ lúc trời còn khuya, xách đèn đi dò tìm khắp nơi trong vườn. Có điều, nấm mối thường mọc lại hay mọc xung quanh nơi mà năm trước đã có nên dễ tìm. Nấm mối ngày đầu mọc chỉ nhỏ bằng hạt tiêu, đầu nhọn vừa nhú trên mặt đất, người dân gọi đó là “núm nứt đất”. Nấm cỡ này chưa thể nhổ, nên người nào phát hiện sẽ “xí phần” – lấy 1, 2 tàu lá dừa phủ lên hay cắm một đoạn cây vào đó làm dấu hiệu để mọi người biết đây là nơi đã có chủ. Chứ không như phải mắc võng canh cây sưa. Không tới hai ngày nấm đã nhô khỏi mặt đất, cao khoảng 3 – 4 cm nhưng nấm chưa nở. Đến hết ngày thứ hai nấm mới bắt đầu nở, đây là lúc thu hoạch tốt nhất và dùng làm thức ăn ngon nhất. Đặc biệt, nhổ nấm không được dùng dao hay bất cứ thứ gì bằng kim loại, vì người dân cho rằng, nấm nghe hơi dao sắt mùa sau sẽ lặn mất, không mọc nữa, nên những chỗ đất cứng dùng que tre, que gỗ để bới gốc nhổ nấm. Đi săn nấm, hái nấm có nhiều chuyện ly kỳ, có người kể rằng: Ai “nặng vía” không thể nào tìm được nấm mối, nếu có đi ngang chỉ có giẫm lên mà thôi, còn người “nhẹ vía” có thể tìm được rất nhiều. Hoặc những người nào mà không ăn được nấm mối có thể đánh hơi được mùi nơi có nấm mọc.

1.4 Kỹ thuật bảo quản

Đối với nấm tươi thì có hai cách bảo quản khá phổ biến anh có thể áp dụng được như sau:

a. Cách đơn giản:

Khi thu hoạch hạn chế làm nấm bị xây xát hay giập vì những chỗ bị giập hay xây sát rất dễ bị vi khuẩn tấn công làm nấm nhanh bị hư hỏng.

Sau khi thu hoạch xong đem vào nơi thoáng mát để phân loại và xử lý sơ bộ.

Với nấm rơm, chọn lọc sơ bộ, loại bỏ những nụ nấm bị ố vàng, úng, các phần gốc dính vào còn sót lại trong lần thu hoạch trước. Cắt bỏ phần cuống nấm có dính rơm, đất.

Trong công đoạn này sở dĩ phải loại bỏ những phần hư hỏng và bẩn (cuống nấm) là vì những phần này chứa rất nhiều vi sinh vật có hại, là nguyên nhân trực tiếp gây thối hỏng nấm, do nấm chứa một lượng dinh dưỡng khá cao nên nếu không loại bỏ những phần bị hư vi sinh vật sẽ nhanh chóng sinh sôi và lây lan gây hư hỏng dây chuyền.

Cần giữ cho khối nấm ở nhiệt độ 10-15oC để kìm hãm quá trình hô hấp của nấm và của cả vi sinh vật. Sau khi hái nấm từ mô hay bịch phôi thì quả thể nấm vẫn còn trong trạng thái “sống” nghĩa là tai nấm vẫn còn hô hấp vẫn còn trao đổi chất.

Tuy nhiên quá trình hô hấp ở đây lại làm mất đi các chất dinh dưỡng trong tai nấm, làm mất độ ẩm đồng thời tạo ra nhiệt tạo cơ hội cho các vi sinh vật có hại phát triển. Vì vậy cần hạ thấp nhiệt độ môi trường nhằm hạn chế quá trình hô hấp của nấm và sự phát triển của vi sinh vật để giữ nấm tươi lâu hơn, việc làm lạnh có thể sử dụng phòng có máy điều hòa( lượng lớn) hoặc dùng thùng xốp cho đá xuống dưới đáy và cho nấm phía trên.

b. Cách này thì tuy kỳ công hơn nhưng hiệu quả xứng đáng.

Sau khi sơ chế nấm bà con sử dụng bao PE loại 2 hay 3kg để đóng gói, tuy nhiên bà con phải đục thủng bao rồi mới cho nấm vào, mỗi bao đục 10 lỗ, đường kính lỗ 0.3-0.5cm, các lỗ phân tán đều trên bao. Đối với nấm sò anh xếp mặt trên của tai nấm hướng ra ngoài vì mục đính thẩm mỹ đồng thời cũng làm cho nấm ít bị rách hơn.. Giữ lạnh tương tự như cách trên.

Tuy nhiên cần lưu ý trong suốt quá trình sơ chế tới khi đóng gói và bảo quản, luôn đặc nấm trong trạng thái thoáng mát không bị ướt nước.

Ngoài ra còn có một cách tốt hơn dùng để bảo quản nấm rơm bằng cách sử dụng chitosan, cách này có thể giữ cho nấm tươi nguyên trong 1 tuần nhưng giá thành cũng hơi cao nên không phù hợp với thị trường Việt Nam.

1.5 Giá trị dinh dưỡng

Nấm mối giàu can xi, phốt pho, sắt, protein và các chất dinh dưỡng rất tốt cho việc bồi bổ sức khỏe, đặc biệt người mắc bệnh tiểu đường.
Do có hàm lượng phốt pho cao nên có lợi cho người bệnh tật và người cao tuổi
Ăn nấm mối thường xuyên có thể cải thiện khả năng miễn dịch chống lại các tế bào ung thư, chống lão hóa, giảm lượng đường trong máu (Theo y học cổ truyền Trung Quốc).
Ăn nấm mối thường xuyên có lợi cho kinh nguyệt và làn da phụ nữ (Theo y học cổ truyền Trung Quốc).
Nấm mối mua ở đâu ?

Ở đâu bán nấm mối ?

Nhà cung ứng nấm mối chuyên nghiệp.

II. MỘT SỐ BÀI THUỐC ĐÔNG Y SỬ DỤNG NẤM MỐI

2.1.Thanh nhiệt, nhuận tràng:

Nguyên liệu: 50 - 60g nấm mối tươi, 200g gạo tẻ, 100g gạo nếp, đậu xanh bỏ vỏ 50g, gia vị vừa đủ.

Cách làm: Nấm mối lột bỏ lớp vỏ lụa trên ô, gọt bỏ phần gốc rồi rửa sạch. Xé nấm theo thớ dọc làm 4 hoặc 5 phần. Cho nấm vào xào, nêm gia vị. Gạo tẻ, gạo nếp, đậu xanh vo sạch rang qua đem nấu cháo, đun lửa to tới khi sôi thì cho nhỏ lửa.

Khi cháo chín, cho nấm đã xào vào đun thêm 5 phút, cho gia vị vừa đủ bắc ra. Nên ăn khi cháo còn ấm, ăn trong ngày. Mỗi tuần ăn 2-3 lần.

2.2 Tăng cường sức đề kháng, ngừa sỏi thận, sỏi mật và giảm cholesterol...:

Nguyên liệu: 80g nấm mối tươi, 30 lá cách non, 10g lá ngải cứu, 100g bí đỏ hoặc bí đao.

Cách làm: tất cả rửa sạch, nấu với 0,5 lít nước đun còn 250ml. Ăn cả ngày, ăn liền 5-7 ngày.Tăng tiết sữa cho phụ nữ sau sinh: 150g nấm mối tươi (tai đã nở), 100g thịt bò hoặc gan lợn, khoai sọ và hoa cúc vàng mỗi vị 50g. Tất cả nấu trong 350ml nước đun còn 150ml, chia 3 phần, ăn trong ngày dùng liền 2 tuần.

2.3 Hỗ trợ điều trị tăng huyết áp:

Nguyên liệu: 200g nấm mối, 250g xương ống hoặc chân giò lợn, 10 quả hồng khô (mứt hồng), 5g mật ong, lá thì là 2g.

Cách làm: Đun nhỏ lửa với 400ml nước, sau khi sôi 30 phút bắc xuống, cho gia vị và thì là. Ăn cả cái và nước trong ngày. Dùng liền 10 ngày.

2.3 Giúp ngon miệng, dễ ngủ, tiêu hóa tốt:

Nguyên liệu: 100g nấm mối, 4 quả chuối hột già còn xanh vỏ, xắt lát mỏng, 30g kim tần thảo, 60g rễ cỏ tranh, 30g bông mã đề.

Cách làm: Tất cả cho vào nồi nấu trong 0,5lít nước còn 200ml, chia 4 phần, uống trong ngày. Dùng liền 3 tuần.

2.4 Cho người thiếu sắt, tiểu đường:

Nguyên liệu: 15 cây nấm mối (50-60gr), 30 lá cách non, 10gr lá ngải cứu.

Cách làm: Rửa sạch, nấu với 100gr bí đỏ hoặc bí đao (cả vỏ) trong 0,5 lít nước, còn 250ml. Ăn cả ngày. Giúp tăng cường hệ miễn dịch, ngừa sỏi thận, sỏi mật và giảm cholesterol, hạ huyết áp.

2.5 Dùng cho người lao động trí óc biếng ăn, hay mệt mỏi, phụ nữ thiếu sữa, suy giảm bạch cầu, cải thiện chức năng tuyến tụy:

Nguyên liệu: 150gr nấm mối (tai đã nở), 100gr thịt nạc bò (hoặc gan heo), 50gr khoai sọ, 50gr bông cúc vàng.

Cách làm: Nấu trong 350ml nước còn 150ml, chia 3 phần, ăn trong ngày. Liên tục 2 tuần.

Ngoài ra, nấm mối còn được dùng chế biến trong các bữa cơm hằng ngày như một loại rau sạch: dùng trộn gỏi với bông điên điển, cải soong, rau tần ô, cần ta. Kho với thịt ba chỉ, cá rô mề hoặc với cá linh. Nấm đã nở tai tròn, chẻ ba đem ướp tỏi, gia vị nướng cùng hải sản. Hoặc dùng kèm với bánh xèo, lẩu nấm là một món ngon cao cấp.

2.6 Cây thuốc cho phái nữ

Theo y học cổ truyền, các loại nấm đều có tác dụng chữa bệnh nhưng giá trị dược liệu không thể vượt qua nấm mối. Nấm mối có giá trị về mặt dinh dưỡng cao đồng thời còn chữa được nhiều bệnh như ung thư tế bào máu, phổi, gan, thận.

Theo một nghiên cứu của bác sĩ Christine Dzerko, chuyên gia nội tiết trung tâm y khoa phụ nữ Austin Texas, thực hiện với 1.475 bệnh nhân trong 60 tuần cho thấy, xác suất trị liệu ung thư vú từ nấm mối đối với phụ nữ và người béo phì đạt mức 92,45%.

2.7Mỹ phẩm và dược phẩm

Gần đây, các nhà nghiên cứu mỹ phẩm ở Osaka (Nhật Bản) đã cho ra thị trường loại mỹ phẩm kết hợp các hoạt chất chiết xuất từ nấm mối, nha đam, rau bồ ngót, bí đỏ, dùng cho làn da bị dị ứng, nhất là da phụ nữ, trẻ em, vốn dễ có nguy cơ bị viêm nhiễm do các tia hồng ngoại từ nắng mặt trời gây nám da, rám và ung thư da.

Ngoài ra, tạp chí Trung y lâm sàng cũng khẳng định, nấm mối có hàm lượng dinh dưỡng tự nhiên (từ nước bọt mối chúa và các vi sinh thực vật tạo thành) giúp tăng sức đề kháng trong cơ thể; chống lão hóa, phát triển chất interferon có khả năng ức chế tối đa sự sinh trưởng của các loại virus, đồng thời giúp ngăn ngừa và giảm tỷ lệ phát triển của các tế bào ung thư.

Phụ nữ từ 28-40 tuổi sau sinh, hoặc cho con bú nhiều, ăn nấm mối sẽ giúp phòng ngừa ung thư vú vì nấm giàu chất xơ, sạch và là thuốc bổ âm, bổ máu, vận thông kinh mạch, giúp thải độc cho cơ thể.

III. CÁC MÓN ĂN ĐƯỢC CHẾ BIẾN TỪ NẤM MỐI

Vào mùa của những cơn mưa cũng chính là mùa "thu hoạch" nấm mối. Lúc này giá nấm mối ở ngoài thị trường đã "hạ nhiệt" và tìm mua cũng dể dàng. Đây là dịp để các bạn chưa và đã thưởng thức hương vị của món nấm mối này có thể chế biến những món ăn hấp dẫn nhất từ nấm. Sau đây là gợi ý cho thực đơn của bạn.

1. Cháo nấm mối

Nguyên liệu: gạo, nấm mối, thịt heo xay, hành lá, ngò; gia vị: hạt nêm, muối, đường, tiêu

Bạn có thể nấu kết hợp với những nguyên liệu khác như hải sản thay cho thịt.

2. Nấm mối xào mướp
Nguyên liệu: 1-2 trái mướp, nấm mối, ớt, dầu hào, nước tương, hành lá; gia vị: hạt nêm, đường, muối, tỏi; ăn kèm nước tương

Bạn có thể xào với cải thìa, cải xanh và 1 ít loại nấm khác

3. Chà bông nấm mối
Nguyên liệu: nấm mối; gia vị: hạt nêm, muối, đường bột ngọt,...

Dùng kèm: cơm cháy, cơm dẻo, mỡ hành

4. Chả giò nấm mối
Nguyên liệu: nấm mối, củ đậu, đậu hũ chiên, mộc nhỉ, bánh bía (hoặc bánh tráng cuốn), cà rốt ; gia vị: hạt nêm, muối, đường bột ngọt,...

Dùng kèm: nước mắm, các loại rau sống, ớt, đồ chua, bún,...

5. Súp Nấm mối
Nguyên liệu: nấm mối, đậu hũ non, cà rốt, củ cải trắng, tiêu, lòng trắng trứng, thịt cua hoặc tôm

Gia vị: đường, muối, bột ngọt, hạt nêm, bột năng, bột bắp, tiêu xay, ớt xay

6. Gỏi nấm mối trộn tôm

Nguyên liệu: nấm mối, tôm nõn bóc vỏ bỏ chỉ đen, rau răm, bắp cải, mè

Gia vị: đường, muối, hạt nêm, chanh (hoặc ít giấm), nước mắm

7. Bánh xèo nấm mối
Nguyên liệu: nấm mối, bột bánh xèo, giá đỗ, đậu xanh, thịt ba chỉ, hành lá, cà chua, dầu ăn, gia vị

Dùng kèm: nước mắm, đồ chua, rau sống

Lưu ý: Bạn nên sử dụng nấm tươi chế biến trong ngày, đừng để quá lâu sẽ mất mùi. Nếu chế biến nấm khô phải ngâm trong nước ấm đến khi nấm nở vừa đủ đừng để b**g quá khi nấu nấm sẽ nhạt và bở

27/02/2018

0
Trang chủ Bạn của nhà nông Kỹ thuật Trồng trọt
Bí quyết trồng bưởi da xanh cho ra quả quanh năm
Tuesday, 06/06/2017 | 14:09
Bưởi da xanh là loại đặc sản rất được ưa chuộng bởi chất lượng độc đáo: vị thanh, không hạt, nước vừa phải, múi màu hồng, dễ lột,... Để trồng bưởi da xanh cho ra quả đều quanh năm thì việc chăm sóc đúng kỹ thuật là rất quan trọng.

1. Giống trồng

Nên chọn một loại giống duy nhất là bưởi da xanh, không trồng xen với các loại cây có múi khác để tránh thụ phấn chéo. Nên trồng bưởi chiết, vì rễ ăn ngang tránh gặp tấng đất phèn; mau ra trái, bảo đảm chất lượng giống hệt cây mẹ. Cây bưởi chiết có tuổi thọ khá cao.

2. Thời vụ trồng

Bưởi Da xanh trồng được quanh năm nhưng nên trồng vào đầu mùa mưa để tiết kiệm công tưới, thời điểm thích hợp nhất vào tháng 5–6 dương lịch hàng năm. Cũng có thể trồng vào cuối mùa mưa nếu có đủ điều kiện tưới trong mùa nắng.

3. Mật độ trồng

Khoảng cách trồng trung bình có thể là 4-5m x 5-6m (tương đương mật độ trồng khoảng 35-50cây/1000m2).

4. Chuẩn bị mô trồng và cách trồng

Đất làm mô thường là đất mặt ruộng hoặc đất bãi bồi ven sông phơi khô. Mặt mô nên cao 40-60cm, đường kính 80-100cm. Đắp mô trước khi trồng 2-4 tuần, trộn đều đất đắp mô với 10 kg phân hữu cơ hoai với 200g vôi. Khi trồng, đào lỗ ở giữa mô và bón vào đáy lỗ 200g phân DAP (18%N-46%P205), phủ lên trên một lớp đất mỏng.

Dùng dao cắt đáy bầu và đặt cây xuống giữa lỗ làm thế nào để mặt bầu cây nhô cao khoảng 3cm so với mặt mô, sau đó lấp đất xung quanh bầu cây ém nhẹ, kéo bao nylon từ từ lên và lấp đất lại ngang mặt bầu, tưới nước. Khi đặt cây phải xoay mắt ghép hướng về chiều gió để tránh cây bị tách chồi. Sau khi trồng cần cắm cọc giữ chặt cây con.

Đối với cây chiết nên đặt cây nằm nghiêng một góc khoảng 45o để cây dễ phát triển cành và tán về sau.

5.Tưới nước

Sau khi trồng xong cần phải tưới nước ngay. Nếu trời nắng hạn tưới 1lần/ngày đến khi cây hồi phục sinh trưởng. Sau đó tuỳ điều kiện sinh trưởng và thời tiết để tưới(đặc biệt chú ý trong 30 ngày đầu tiên sau trồng).
Sau khi trồng được 10 ngày nên sử dụng chế phẩm sinh học Vườn Sinh Thái phun qua lá:

Dùng 100ml chế phẩm Vườn Sinh Thái pha với 200-250 lít nước phun đều 2 mặt lá, cứ 1 tháng phun 2 lần(áp dụng cho tháng thứ nhất và thứ 2 sau trồng). Những tháng sau đó cứ 20-30 ngày phun 1 lần.

Ngoài ra có thể áp dụng tưới gốc, cứ 1 tháng tưới 1 lần: Khi tưới pha 100ml chế phẩm Vườn Sinh Thái + 100 lít nước, mỗi gốc tưới 1-1,5 lít dung dịch đã pha

6. Tỉa cành

Hàng năm, sau khi thu hoạch cần phải loại bỏ những cành đã mang trái (thường rất ngắn khoảng 10- 15cm), cành sâu bệnh, cành ốm yếu, cành nằm bên trong tán không có khả năng mang trái, các cành đang chéo nhau, đồng thời cũng cần loại bỏ các cành vượt trong thời kỳ đang mang trái nhầm han chế việc cạnh tranh dinh dưỡng và sâu bệnh cho cây. Chú ý: trong quá trình cắt cần phải khử trùng dụng cụ cắt.



7. Tạo tán

Từ vị trí mắt ghép trở lên khoảng 50- 80cm thì bấm bỏ ngọn. Chọn 3 mầm khỏe, thẳng mọc từ thân chính và phát triển theo 3 hướng tương đối đồng đều là cành cấp 1, dùng cọc tre cấm xuống đất để giữ cành cấp 1 tạo với thân chính 1 góc 35 – 40°. Từ cành cấp 1 sẽ mọc ra cành cấp 2 và chỉ giữ lại 2- 3 cành cấp 2. Cành cấp 2 phải để cách thân chính 15- 30cm và cành này cách cành kia 20- 25cm, cùng với cành cấp 1 tạo thành một gốc 30- 35°. Từ cành cấp 2 sẽ hình thành những cành cấp 3, cành này không hạn chế về số lượng và chiều dài, nhưng cần loại bỏ những các cành mọc quá dày hoặc quá yếu. Sau 2 năm cây sẽ có bộ tán cân đối.

Quét vôi quanh gốc cây định kỳ 1-2 tháng/lần, đoạn sát mặt đất cao 80-100 cm, lớp vôi bám vào vỏ cây ngăn không cho sâu đục thân trưởng thành, do một loại xén tóc đến đẻ trứng vào lớp vỏ của gốc cây. Buổi tối 19-21 giờ thắp bóng điện sáng ở giữa vườn, xén tóc có tính hướng quang sẽ bay đến, dùng vợt bắt đem giết hạn chế trứng đẻ.

8. Bón phân

Trên cơ sở phân tích chất đất mà có chế độ bón phân thích hợp. Sử dụng phân hữu cơ kết hợp vô cơ, bón gốc kết hợp bón lá theo từng giai đoạn phát triển của cây bưởi.

- Phân hữu cơ: Xu hướng canh tác tiên tiến hiện nay là sử dụng càng nhiều phân hữu cơ càng tốt khi sản xuất trái cây theo hướng sạch. Liều lượng 15-30 kg/năm/cây trưởng thành rất tốt cho bưởi, giúp tăng tuổi thọ rất rõ cho cây.

Cách ủ phân hữu cơ đơn giản: Không nên bón xác bã hữu cơ tươi vào đất mà nên ủ cho hoai mục trước khi bón. Các nguyên liệu hữu cơ được gom lại, có thể trộn với vôi để xử lý một số mầm bệnh trong đống ủ. Để gia tăng tiến trình nầy, trên thị trường đã có các loại phân phân hủy, có thể trộn thêm Lân và phân Đạm làm thức ăn cho vi sinh vật. Có thể ủ với Nấm đối kháng sau 6-8 tuần. Sử dụng phân này bón cho bưởi rất tốt.

- Phân vô cơ: thường sử dụng là DAP rải xa gốc hoặc NPK phun lên lá.
Đạm (N) giúp cây bưởi phát triển nhanh, đâm chồi, thiếu đạm cây bưởi còi cọc, ốm yếu, đạm phù hợp cây bưởi trong giai đoạn tăng trưởng.
Lân (P) kích thích nẩy chồi, đẻ nhánh, thúc đẩy bưởi ra hoa, đậu trái; lân còn giúp cây bưởi chống bị nhiễm bệnh.
Kali (K) giúp cây bưởi cứng cáp, trái không bị rụng non.

9. Kỹ thuật bón phân

Tùy theo giai đoạn sinh trưởng và phát triển của bưởi, việc bón phân có thể được chia ra các thời kỳ như sau :

- Thời kỳ cây 1-3 năm tuổi: Phân bón được chia làm nhiều đợt để bón cho bưởi. Nếu đã có bón lót phân lân hoặc DAP thì dùng phân Urea với liều lượng 10-20g hòa tan trong 10 lít nước để tưới cho một gốc bưởi (1-2 tháng/lần). Khi cây trên 1 năm tuổi, bón trực tiếp phân vào gốc.

- Thời kỳ cây bưởi đã cho trái ổn định: Có thể chia làm 5 lần bón như sau :
+ Sau thu hoạch: bón 25% đạm + 25% lân + 10-30 kg hữu cơ/gốc/năm.
+ Bốn tuần trước khi cây ra hoa: bón 25% đạm + 50% lân + 25% kali.
+ Sau khi đậu quả: bón 25% đạm + 25% lân + 25% kali.
+ Giai đoạn quả phát triển: bón 25% đạm + 25% kali.
+ Một tháng trước thu hoạch: bón 25% kali.

Nên bón bổ sung từ 0,5-1kg phân Ca(NO3)2/cây/năm vào các giai đoạn sau thu họach, trước khi trổ hoa và sau đậu trái.

*Lưu ý:

Ở thời kỳ cho quả (thời kỳ kinh doanh) nên bổ sung thêm Chế phẩm sinh học Vườn Sinh Thái phun cho các thời kỳ sau:

Sau khi thu hái: Dùng 5ml chế phẩm sinh học pha với 10 – 15 lít nước sạch phun lên cây. Phun chế phẩm sinh học thời kỳ này nhằm mục đích hồi phục cây sau 1 năm nuôi hoa, quả tạo điều kiện cho cây sinh trưởng tốt và chuẩn bị cho đợt quả sang năm.

Thời kỳ trước ra hoa: Phun 2 lần, mỗi lần cách nhau 15 ngày,dùng 5ml chế phẩm sinh học hòa với 10 - 15 lít nước sạch phun đều lượt dưới dạng sương mù. Phun chế phẩm sinh học thời kỳ này sẽ kích thích cây phân hóa mầm hoa, hoa nở đều và tập trung, hạn chế hiện tượng rụng hoa sinh lý do thiếu dinh dưỡng.

Thời kỳ quả nhỏ: Sau khi hoa rụng hết quả đã đậu chúng ta dùng 5ml chế phẩm sinh học hòa với 10 – 15 lít nước sạch phun đều 01 lượt. Phun chế phẩm sinh học thời kỳ này giúp hạn chế hiện tượng rụng quả sinh lý, tạo điều kiện cho quả phát triển tốt ở giai đoạn đầu, quả phát triển đều tránh dị dạng

Thời kỳ quả lớn: Dùng 5ml chế phẩm sinh học pha với 10 – 15 lít nước sạch phun đều 01 lượt lên cây, cách 7 – 10 ngày phun 1 lần. Phun chế phẩm sinh học thời kỳ này làm cho quả lớn đều, chất lượng quả cao, mẫu mã đẹp

07/02/2018

Từ khóa...
08 6258 9521

Dành cho nhà nông
PHÂN BÓN TRUNG VI LƯỢNG
7
TRUNG VI LƯỢNG VỚI CÂY TRỒNG

TS. Nguyễn Xuân Trường



Cây trồng cũng như tất cả các thể sống bình thường khác đều cần thức ăn cho sự sinh trưởng, phát triển. Nếu như con người và động vật chủ yếu sống bằng thức ăn từ nguồn hữu cơ (từ sản phẩm của động vật hoặc thực vật) thì cây trồng chủ yếu sống được bằng chất vô cơ. Cây trồng sinh trưởng, phát triển được là nhờ hút các chất dinh dưỡng khoáng đa lượng (đạm, lân, kali), trung lượng (canxi, magiê, lưu huỳnh) và vi lượng (Kẽm, sắt, đồng, mangan, bo, molypđen, clo, silic…).

Trước đây, khi trình độ canh tác còn lạc hậu, năng suất cây trồng thấp thì các nguyên tố dinh dưỡng đa lượng là yếu tố chính hạn chế năng suất cây trồng. Ở nước ta trong vài thập kỷ qua, phân đạm, lân và kali đã đóng góp vai trò to lớn trong việc tăng năng suất và chất lượng cây trồng. Tuy nhiên trong vài năm gần đây, khi nông dân đã sử dụng đầy đủ và cân đối đạm, lân, kali thì các nguyên tố trung lượng, vi lượng lại là những yếu tố hạn chế năng suất cây trồng. Sở dĩ có điều này là do trước đây năng suất cây trồng thấp, cây sử dụng ít các chất trung, vi lượng, mặt khác do trong đất còn có một lượng dự trữ đáng kể các chất này. Tuy nhiên khi năng suất cây trồng cao, cây sử dụng ngày càng nhiều trung vi lượng hơn nhưng do không được bón bổ sung nên trong đất ngày càng cạn kiệt và dẫn đến thiếu hụt, năng suất cây trồng không thể tăng lên mà còn giảm đi mặc dù lượng bón phân đạm, lân và kali ngày càng tăng. Hiện nay, tình trạng thiếu hụt các chất dinh dưỡng trung và vi lượng diễn ra ở hầu hết các loại cây ở nước ta như lúa, cà phê, điều, tiêu, mía, đậu phộng, cây có múi, xoài, chanh dây, mãng cầu, dưa hấu, ớt, rau màu, hoa, cây cảnh… và diễn ra ở hầu khắp các địa phương trong cả nước

Kết nghiên cứu về đất ở nước ta do tổ chức FANIDAP/FINIDA thực hiện năm 1992 cho thấy: trong 122 mẫu đất nghiên cứu thuộc nhiều vùng khác nhau đa số là thiếu trung, vi lượng, trong đó 72% thiếu canxi, 48% thiếu magiê, 78% thiếu Bo (bảng 1). Riêng sắt rất ít thiếu do đất của nước ta đa phần là chua, phèn. Các loại đất thường thiếu các trung, vi lượng là đất cát, đất xám, đất đỏ vàng, đất đỏ bazan.

Đất Việt Nam hầu hết là chua, nghèo hữu cơ và dinh dưỡng (kể cả đa, trung và vi lượng). Đây cũng là một trong những nguyên nhân làm cho năng suất và chất lượng cây trồng thấp. Trong thực tế, chúng ta có thể dễ dàng quan sát thấy triệu chứng thiếu hụt canxi, magiê, kẽm và boron trên cây có múi, cây cà phê, hồ tiêu; Thiếu canxi, bo và silic trên cây hồ tiêu, đậu phộng, mãng cầu, mía…

Kết quả nghiên cứu về canxi, magiê và lưu huỳnh trên đất xám của tiến sĩ Nguyễn Xuân Trường từ 1997-2002 cho thấy canxi, magiê và lưu huỳnh đều làm tăng năng suất lúa ở cả hai vụ đông xuân và hè thu trên đất xám. Tương quan giữa canxi, magiê và lưu huỳnh với năng suất lúa khá chặt. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy canxi, magiê và lưu huỳnh đều làm tăng chất lượng lúa, thể hiện bằng các chỉ tiêu như độ bạc bụng, tỷ lệ gạo nguyên, hàm lượng protein và các amino axit.

Silic là một chất dinh dưỡng khoáng rất cần thiết cho cây trồng. Trong đất tuy có một lượng khá lớn silic, nhưng chúng lại ở dạng cây không hấp thu được nên cây vẫn bị thiếu silic, cây yếu, dễ bị đổ ngã và năng suất cây trồng không cao. Vài năm gần đây, các nước như Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan… đã ứng dụng silic trong trồng trọt khá thành công. Nhiều loại phân bón silic như SILICON 23 hay Silica hoặc phân bón có bổ sung silic đã giúp cây trồng sinh trưởng phát triển tốt, nâng cao năng suất và chất lượng. SILICON 23 là có chứa một lượng đáng kể silic ở dạng axit nên rất dễ tiêu cho cây, ngoài ra còn có các thành phần trung lượng như canxi, magiê và các chất vi lượng khác nên rất thích hợp cho cà phê, hồ tiêu, cây ăn trái, mía, lúa và rau màu trên các vùng đất xám Đông Nam Bộ, Tây nguyên, Tây Nam Bộ và miền Trung.



Bảng 1: Dinh dưỡng Trung, vi lượng ở đất Việt Nam

Chất dinh dưỡng

Tỷ lệ số mẫu thiếu

Canxi (ca)

72%

Magiê (Mg)

48%

Lưu huỳnh (S)

37%

Kẽm (Zn)

11%

Sắt (Fe)

4%

Đồng (Cu)

17%

Mangan (Mn)

11%

Bo (B)

78%

Molypđen (Mo)

48%

Nguồn: FANIDAP/FINNIDA, 1992



Việc sử dụng các loại phân bón trung vi lượng là rất quan trọng và cần thiết trong giai đoạn hiện nay để tăng năng suất cây trồng và tăng chất lượng nông sản, đem lại lợi nhuận cao hơn cho nhà nông. Trong thực tế sản xuất, bà con có thể sử dụng theo hướng dẫn tổng quát sau:

Để ngăn ngừa và chữa trị tình trạng thiếu trung vi lượng gây ra, bà con cóa thể sử dụng phân bón trung vi lượng tổng hợp như: Vi lượng đặc hiệu THT 25+; vi lượng vàng (Nutricomplex-A); Silicon 23 hoặc sử dụng vi lượng kết hợp với Amino acid như NaturBor, naturCal; Boron Amino hoặc vi lượng đơn.

Canxi: bón lót vôi hay thạch cao và/hoặc sử dụng các loại phân lân có hàm lượng can xi cao như vi lượng đặc hiệu THT 25+ hoặc vi lượng vàng. Khi cây đang phát triển mạnh, đặc biệt là lúa sau trỗ, cây đang mang trái, đậu phộng sau khi đâm tia, cần sử dụng phân bón lá có hàm lượng canxi cao và dễ hấp thu như NaturCal hay vi lượng đặc hiệu THT 25+. Khi cây bị thiếu can xi (mép lá già vàng dần, lá mỏng, cây yếu dễ bị đổ ngã và sâu bệnh, thối trái, xì mủ, cần bón hay phun ngay các loại phân qua lá có hàm lượng canxi cao để bổ sung kịp thời.

Magiê: bón lót bằng các loại phân lân có magiê cao như vi lượng đặc hiệu THT 25+, vi lượng vàng, silicon 23… Giai đoạn bón thúc cần sử dụng các loại phân trung vi lượng như: vi lượng đặc hiệu THT 25+, vi lượng vàng. Khi quan sát thấy cây bị thiếu magiê (lá già vàng nhưng gân lá vẫn xanh) thì bón các loại phân có magiê cao như vi lượng đặc hiệu THT 25+, vi lượng vàng.

Lưu huỳnh: Để phòng chống thiếu lưu huỳnh cần bón phân đạm SA kết hợp với urea, bón lân supe, vi lượng đặc hiệu THT 25+, vi lượng vàng.

Silic: Cần bón bổ sung các loại phân có silic ở dạng dễ hấp thu như Silicon 23, vi lượng đặc hiệu THT 25+, vi lượng vàng theo khuyến cáo của nhà sản xuất. Bón tro trấu, tro dừa cũng bổ sung một phần silic đáng kể.

Bo: Cây trồng cần bo để hình thành hoa và hạt phấn, tăng khả năng đậu trái và giảm rụng trái non. Các loại cây như lúa, đậu phộng, mãng cầu, hoa cảnh, cây ăn trái và rau màu đều rất cần bo. Khi thiếu bo, số hoa và trái giảm, tỷ lệ rụng trái cao, rau dễ bị hư, năng suất cây trồng thấp. Để bổ sung bo cho cây trồng có thể bón borax vào đất hoặc phun phân NaturBor hoặc Boron Amino qua lá. Hiện nay nông dân nhiều vùng đã sử dụng Naturbor để điều khiển lúa trổ bông đều, bông to, cây ra hoa sớm, ra hoa trái vụ, tăng tỷ lệ đậu trái, giảm rụng trái rất thành công.

Kẽm: Biện pháp sử dụng phân kẽm qua lá là biện pháp cung cấp kẽm cho cây có hiệu quả hiện nay. Khi sử dụng chúng ta cần lưu ý hàm lượng kẽm trong từng loại phân để chọn được loại phân thích hợp nhất. Một số phân bón gốc hiện nay cũng được bán rộng rãi trên thị trường như vi lượng đặc hiệu THT 25+, vi lượng vàng, Silicon 23…

Đồng: Đồng rất quan trọng đối với cây trồng. Khi thiếu đồng, cây dễ bị nấm bệnh tấn công làm giảm năng suất cây trồng. Các loại phân đồng như sunfat đồng (đồng xanh) hay các loại phân bón lá có bổ sung đồng hiện trên thị trường bán khá nhiều như vi lượng đặc hiệu THT 25+, vi lượng vàng, bà con nông dân có thể mua về sử dụng. Giai đoạn cần phân đồng là cây con khi mới nảy mầm, phát rễ hoặc giai đoạn b**g đọt với các cây lâu năm.

Các loại vi lượng khác như sắt, mangan tuy chưa thấy biểu hiện thiếu nhiều như các trung vi lượng đã trình bày ở trên. Tuy vậy khi thiếu hụt, có thể sử dụng các loại phân như sufat sắt, sunfat mangan hay các loại phân bón lá có các thành phần này để bổ sung. Riêng molypđen là loại phân bón rất đắt và trên thị trường các tỉnh rất ít có loại phân này nên bà con có thể sử dụng các loại phân bón lá có thành phần molypđen để bổ sung. Đậu phộng và các loại cây họ đậu, các loại rau rất cần molypđen.

Bảng 2: Một số loại phân bón Trung, vi lượng

Tên phân và công thức

Hàm lượng dinh dưỡng chính (*)

Cách sử dụng

Vi lượng đặc hiệu THT 25+

9% MgO; 1% CaO; 5%S; 1% SiO2; 4,5% Zn; 2%Cu; 2%B; 0,15%Mn; 0,15% Fe.

Bón gốc, phun qua lá

Vi lượng vàng (Nutricomplex-A)

5% MgO; 2% CaO; 1%S; 2% SiO2; 1000ppm Zn; 500ppm B; 100ppm Cu; 100ppm Mn; 50ppm Fe.

Bón gốc, phun qua lá

Silicon 23

12%SiO2; 15% CaO, 10% MgO

Bón gốc, phun qua lá

Siêu boron (Boron Amino)

9,9% B



NaturBor (phức amono acid và bo)

5% B; 25% Amino acid tổng số

Phun qua lá

NaturCal (phức amono acid và canxi)

6% Cao; 25% Amino acid tổng số

Phun qua lá

Magiê sunfat MgSO4.H2O

17% Mg

Bón gốc hoặc phun lá

Magiê sunfat MgSO4.7H2O

9,7% Mg

Bón gốc hoặc phun lá

Magiê kali sunfat 2MgSO4.K2SO4

5,7% Mg

Bón gốc hoặc phun lá

Magiê nitrat Mg(NO3)2.6H2O

9,5% Mg

Bón gốc hoặc phun lá

Đolomit CaCO3.MgCO3

30% CaO; 21% MgO

Bón gốc

Thạch cao CaSO4.2H2O

32% CaO; 18% S

Bón gốc

NaturCal (phức amino axit và canxi)

6% Ca

Phun qua lá

Sunfat amôn NH4SO4

24% SO4

Bón gốc

Kẽm sunfat ZnSO4 .7H2O

23% Zn

Bón gốc hoặc phun lá

Phức kẽm EDTA: ZnNa2C10H12N2O8

14% Zn

Phun qua lá

Sắt sunfat ZnSO4 .7H2O

20% Fe

Bón gốc hoặc phun lá

Phức sắt EDTA: FeNaC10H12O8N2.3H2O

9% Fe

Phun qua lá

Đồng sunfat CuSO4.5H2O

24% Cu

Bón gốc hoặc phun lá

Phức đồng EDTA: CuNa2C10H12N2O8

13% Cu

Phun qua lá

Borax Na2B4O7 .10H2O

11% B

Bón gốc hoặc phun lá

NaturBor (Phức hợp Amino axit và Bo)

5% B

Phun qua lá

Mangan sunfat MnSO4 .4H2O

26% Mn

Bón gốc hoặc phun lá

Phức mangan EDTA: MnNa2C10H12N2O8

13%Mn

Phun qua lá

Natri môlypđat NaMoO4 .2H2O

39% Mo

Phun qua lá

Ghi chú: (*) là tính theo phân tiinh khiết. Một số loại phân thương phẩm trên thị trường có độ tinh khiết thấp hơn thì hàm lượng sẽ thấp hơn

Address

Phước Long
Binh Phuoc

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Tổng hợp kỹ thuật làm vườn posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Business

Send a message to Tổng hợp kỹ thuật làm vườn:

Share

Category