24/07/2013
Là một đồng nghiệp của ông anh Ngọc Hà Nguyễn một thời, em cũng kính phục tài làm thơ ca cùng sụ am hiểu lịch sử nước nhà. Dù em không còn dạy ở quê hương nữa, ông anh ở nhà gắng chỉ dạy cho các em những gì ông anh đang có bằng cái Tâm và Tri Đức của mình. Chúc ông anh hạnh phúc và sức khỏe.
Em xin ông anh đưa bài này vào page của em để chia sẻ với mọi người.
"Nhân sự kiện "vở luyện chữ kiến thức lịch sử.." mình xin đăng bài thơ mà mình tự làm về lịch sử nước nhà, mọi người nêu ai quan tâm xin hãy đọc và comment giùm. Mà cũng xin thanh minh luôn tác giả biêt là trạng nguyên Lương Thế Vinh ko phải đời Trần mà là đời Lê nhưng do luật bằng trắc nên đưa liều xin đùng ném đá nhé
Việt Nam sử lược.
Kính dâng tiên tổ - mùa xuân 2001
Nhân ngày giỗ tổ Hùng Vương,
Nghĩ về quá khứ hùng cường ông cha.
Bốn ngàn năm đã trôi qua,
Nào là thử thách, nào là chông g*i!
Chống thù trong, phá giặc ngoài,
Giữ nền văn hiến, sáng ngời Việt Nam.
Kể từ xưa thủa hồng hoang,
Vua Hùng dựng nước Văn Lang buổi đầu,
Đô kì đóng cõi Phong Châu,
Khí thiêng sông núi, voi chầu đế đô.
Một tay gây dựng cơ đồ,
Cháu con Lạc Việt ấm no quây quần.
Có ngoại xâm, chống ngoại xâm.
Đất nghèo sinh những anh hùng lên ba.
Đánh giặc bằng tre đằng ngà,
Lớn lên cùng những nong cà quê hương…
Thanh bình lễ hội muôn phương,
Âm vang tiếng trống Đông Sơn oai hùng.
Nhân dân nô nức tưng bừng,
Dâng vua đã có bánh chưng, bánh dày…
Thế rồi thế sự đổi thay,
An Dương Thục Phán lên thay vua Hùng
Vua cho xây dựng Loa thành,
Chọn nơi đất hiểm, chống ngăn Triệu Đà.
Thương thay trúng kế gian tà!?
Nỏ thần trao giặc, thành ra hại mình.
Mị Châu ơi, chuyện tử sinh,
Trái tim trong trắng, mối tình nghiệt oan,
Yêu chi mất cả giang san,
Ngàn năm tượng đá, hàm oan không đầu.
Dân ta chịu kiếp ngựa trâu,
Chia thành quận huyện, đứng đầu Hán quan
Đòi ngọc lụa, cướp bạc vàng,
Hung hăng thỏa chí tham tàn xâm lăng:
Đốt nhà, cướp của, giết dân …
Trâm điều bạo ngược – quỷ thần oán than.
Dễ gì yên định nước Nam
Kìa nghe trống trận đã vang khắp miền,
Hai Bà Trưng đã đứng lên,
Phất cờ nương tử, thay quyền tướng quân.
Một: xin đuổi giặc xâm lăng,
Hai: cho thỏa chí anh hùng nữ nhi,
Việc xưa chính sử còn ghi,
Hát giang còn đó, lời thề vang vang!
Tiếp theo có Triệu trinh Nương,
Chẳng cam tì thiếp, vung gươm chém kình.
Cưỡi voi, tỏ mặt anh hùng
Núi Tùng còn đó tiếng cồng năm xưa.
Đến Lý Nam Đế làm vua,
Nước Nam riêng cõi đâu thua nước người?
Vạn Xuân, ước vọng muôn đời
Dựng chùa Khai Quốc – rạng ngời sử xanh.
Rồi Mai Hắc Đế, Phùng Hưng,
Rồi bao nhiêu đấng anh hùng đứng lên.
Những mong giành lại chủ quyền,
Những mong chèo lái con thuyền cứu dân…
Màn đêm rồi cũng qua nhanh,
Ngàn năm bắc thuộc, cũng thành phôi pha
Bình minh chiếu khắp gần xa,
Nước ta lại có dân ta chủ quyền.
Kể từ khi có Ngô Quyền,
Bạch Đằng dậy sóng – làm nên sử vàng.
Mở trang sử mới vẻ vang,
Dân ta lại chủ giang san của mình.
Cờ lau tập trận vua Đinh,
Dẹp tan nội loạn danh xưng Tiên Hoàng
Giận thay Đỗ Thích gian ngoan,
Hại vua bởi giấc mộng vàng vu vơ.
Triều đình con trẻ làm vua,
Lăm le ngoài cõi giặc kia rập rình.
Đáng khen thục nữ trung trinh,
Khoác ngay long cổn lên mình vua Lê,
Lê Hoàn khởi nghiệp Tiền Lê,
Dẹp tan giặc Tống, yên bề nước non,
Vua thương dân như yêu con,
Đã thân cày ruộng, lại còn đắp đê.
Than ôi cơ nghiệp Tiền Lê,
Vào tay nghịch tử là Lê Ngọa Triều!
Giết anh độc chiếm vương triều,
Tham dâm, độc hiểm, trăm điều hại dân …
Nước Nam vốn trọng nghĩa nhân,
Có đâu để kẻ hôn quân hại người?
Đưa Lý Công Uẩn lên ngôi,
Định kinh đô mới về nơi rốn rồng.
Đặt cho tên mới: Thăng Long
Bừng bừng khí thế của rồng vươn mây.
Thủ đô xây dựng từ đây,
Trái tim cả nước từ nay hướng về.
Triều Lý trải chín đời vua
Mở mang đạo Phật: xây chùa, kính sư…
Lại còn rất trọng chữ Nho,
Xây Quốc Tử Giám cho trò đi thi,
Khắp nơi đua mở làng nghề
Nông nghiệp phát triển ấm no muôn nhà.
Đến loạn Quách Bốc xảy ra,
Dần dần triều Lý đổi ra triều Trần.
Vua Trần đoàn kết toàn dân,
Dưới cờ đại nghĩa ba lần kháng Nguyên.
Đông A hào khí trăm miền,
Chương Dương, Hàm Tử … làm nên Bạch Đằng.
Giặc sợ giặc rúc ống đồng,
Nước tan bóng giặc - thanh bình như xưa.
Ta về dựng lại kinh đô,
Càng tăng vẻ đẹp càng khoe vẻ giầu,
Văn nhân tài tử dập dìu,
Lại cho thi cử để chiêu hiền tài,
Ba năm một khóa chẳng sai
Để cho sĩ tử dùi mài sử kinh.
Nước Nam vốn thực chí nhân,
Chiến bào cởi xuống, vua Trần đi tu,
Hiền thay cảnh Phật dáng chùa,
Núi rừng Yên Tử đến giờ còn xanh.
Trong triều lắm bậc tài danh
Kìa nghe tiếng hịch trên sông còn truyền
Trạng Vinh, trạng Mạc, trạng Hiền …
Tài cao học rộng danh truyền thiên thu.
Bỗng đâu xảy loạn họ Hồ,
Vốn dòng ngoại thích tiếm vua xưng quyền.
Nước non bỗng chẳng bình yên,
Việc trong chưa ổn, giặc liền tiến sang,
Lại phen tan đá nát vàng!
Vua tôi đành chịu bắt mang xứ người.
Nghe lời cha dặn con ơi,
Về nơi đất hiểm, tìm người nghĩa nhân.
Ức Trai tìm đến Lam Kinh,
Soạn Bình Ngô sách – kính dâng bệ rồng.
Lam Sơn – tụ nghĩa anh hùng,
Mười năm khánh chiến công trình xiết bao.
Trải bao khó nhọc gian lao,
May nhờ linh khí – rùa trao gươm thần,
Cũng nhờ đoàn kết toàn dân,
Sĩ khí đã mạnh, tinh thần thêm hăng.
Trận Mã Yên chém Liễu Thăng,
Vương Quan, Mộc Thạch thất kinh quy hàng.
Mở ra hội nghị Đông Quan,
Giặc kia cút khỏi giang san tiên rồng.
Vua ta trở lại kinh thành,
Gươm thần trả lại cho thần Kim Quy.
Thanh bình gươm giáo mà chi?
Lấy đức trị quốc ắt thì dân yêu!
Phồn vinh đệ nhất Lê triều,
Thái Tông, Thái Tổ có nhiều công lao,
Giữ nên thịnh trị vui sao,
Kinh tế, chính trị ở vào thời hưng.
Đến đời Hồng Đức – Thánh Tông.
Anh minh tài đức muôn dân được nhờ.
Dựng bia Văn Miếu để thờ,
Ban hành bộ luật, đến giờ còn lưu.
Nước nhà văn nghiệp càng cao,
Tao Đàn vua lập – như sao chói lòa.
Trăm năm yên nghiệp nước nhà,
Triều Lê rồi cũng đến đà suy vong.
Chiêu Tông, Tương Dực bất nhân,
Để rồi lỗi đạo quân thần vua tôi.
Trong triều loạn lạc cướp ngôi,
Ở ngoài khởi nghĩa khắp nơi tưng bừng.
Còn đâu cái cảnh thanh bình,
Chiến tranh loạn lạc ruộng đồng bỏ hoang.
Dân tình sống cảnh lầm than,
Niềm đau dậy đất, nỗi oan thấu trời.
Thế rồi nhà Mạc cướp ngôi,
Nước nhà dần bước vào thời phân tranh.
Lê, Mạc chiếm đất tranh giành,
Rồi nhà Trịnh Nguyễn – Đằng Trong, Đằng Ngoài.
Nào ai có chịu nhường ai,
Chiến tranh loạn lạc xương phơi đấy đồng.
Sông Gianh – chứng tích hơn căm,
Một thời chia cắt non sông Lạc Hồng.
Thời loạn lạc, xuất anh hùng.
Tây Sơn khởi nghĩa nông dân cờ đào.
Giặc Xiêm, chúa Nguyễn lao đao,
Rạch Gầm, Xoài Mút – tạc vào sử xanh.
Quang Trung ra đất kinh thành,
Phù Lê diệt Trịnh – công danh rạng ngời.
Anh hùng tài lớn phục người,
Sĩ phu đất bắc ngàn người đều nghe.
Chỉ riêng Chiêu Thống u mê,
Đang tâm dẫn giặc quay về quê hương.
Cản sao ý chí quật cường?
Bước chân thần tốc trên đường tiến nhanh.
Hai chín vạn giặc xâm lăng,
Một cơn giận lớn, hóa thành bụi tro.
Gò Đống Đa tiếng đến giờ,
Mồ chôn quân giặc vết nhơ ngàn đời
Quang Trung hoàng đế lên ngôi,
Nước Nam ta lại rạng ngời triều ta.
Tiếc thay nghiệt ngã trời già,
Anh hùng vắn số thành ra cũng sầu.
Tây Sơn chẳng được bền lâu,
Gia Long tái lập bên lầu Phú Xuân.
Mới hay trong cảnh trăm năm,
Giang sơn là nợ, anh hùng phải mang.
Ngàn năm tổ quốc Việt Nam,
Giờ đây mới thực vẹn toàn quê hương.
Phía tây là dãy Trường Sơn,
Phía đông hòn ngọc sóng vờn biển xanh.
Từ Cà Mau đến Cao Bằng,
Non sông một dải bức tranh quê mình.
Phú Xuân thành đất thần kinh,
Mười ba triều Nguyễn lưu danh chốn này.
Trăm năm bao cuộc đổi thay…
Nước Nam ta lại đến ngày suy vong.
Giặc Tây phương đến xâm lăng
Vua tôi nhà Nguyễn dần dâng đất này.
Nhận làm thuộc địa nhục thay?!
Hai tròng một cổ đọa đày muôn dân.
Sục sôi máu lửa hờn căm,
Dân ta quyết chẳng chịu dâng quê mình.
Từ non cao đến đồng bằng,
Hương Khê, Yên Thế, Ba Đình …đứng lên.
Một lòng theo hịch Cần Vương,
Anh hùng khắp chốn vùng lên không ngừng,
Như lời dạy lũ xâm lăng,
“Nước Nam còn cỏ” chớ hòng yên thân …
Thế rồi có bậc thánh nhân,
Lên tàu từ bến nhà Rồng ra đi.
Gian nan người có quản gì?
Bao năm tìm một lối đi cho đời.
Ngày nào nước mắt Bác rơi,
Khi người tìm thấy mặt trời nước Nga.
Đây rồi độc lập dân ta,
Đây là cơm áo, đây là tự do.
Vui sao ánh mắt Bác Hồ?!
Để rồi từ đó Đảng ta ra đời
Vùng lên nô lệ khắp nơi,
Tiến theo cờ Đảng chôn vùi xâm lăng,
Mùa thu tháng tám lẫy lừng,
Ba Đình lịch sử khai sinh nước nhà.
Bốn ngàn thế hệ chúng ta,
Cùng về nghe giọng Cha già tuyên ngôn.
Như sau một tiếng sấm dồn,
Bao nhiêu u ám đêm tàn sạch không.
Toàn dân đoàn kết một lòng,
Ta đi theo Đảng chín năm trường kì.
Xẻ đường bạt núi mà đi,
Nghe lời Bác gọi sợ gì giặc kia.
Để rồi Việt Bắc, Đông Khê,
Để rồi Biên Giới, rồi về Điện Biên.
Thế rồi thế giới biết tên.
Việt Nam thắng Pháp làm nên thần kì?!
Pháp thua lại có Mĩ kia,
Lấy sông Bến Hải định chia quê mình?
Ta đi tiếp cuộc trường chinh,
Như thần Phù Đổng vươn mình đứng lên.
Bước chân nát đá trăm miền,
Tai bèo xẻ núi, búa liềm dời non
Gan không núng chí không sờn
Đánh cho Mĩ Ngụy kinh hồn mới thôi.
Nước non chẳng thể chia đôi,
Dẫu cho đạn nổ, bom rơi xá gì?
Thế rồi hiệp định Pari,
Giặc Mĩ thảm bại cuốn cờ rút quân.
Và ta xốc tới bảy nhăm,
Mùa xuân toàn thắng, mùa xuân vĩnh hằng.
Nước nhà sạch bóng xâm lăng,
Bắc Nam sum họp vui mừng xiết bao!"
LARA81HN