TIẾNG ĐÀN BẦU.Mai Chính.English Tour Guide

TIẾNG ĐÀN BẦU.Mai Chính.English Tour Guide Travel - Tours Culture - Custom - Heritage

It's very beautiful and romantic!Photo's taken at the top of Bach Ma (White Horse) National Park when I lead a Korean's ...
20/09/2013

It's very beautiful and romantic!
Photo's taken at the top of Bach Ma (White Horse) National Park when I lead a Korean's Family to visit it. Imagine in picture looks like a horse.

"Đời sinh ra ta, ta phải sống cho đời."Nếu bạn đã chọn cho mình một công việc mà thực sự yêu thích phù hợp với sở trường...
03/08/2013

"Đời sinh ra ta, ta phải sống cho đời."
Nếu bạn đã chọn cho mình một công việc mà thực sự yêu thích phù hợp với sở trường và sở đoản của bạn. Cho dù đó là công việc gì, ở vị trí nào, kiếm được bao nhiêu tiền điều đó không quan trọng. Nhưng mỗi ngày bạn luôn cảm thấy thật hạnh phúc và vui vẻ với công việc của mình. Điều đó có nghĩa là bạn không phải làm việc nữa trong suốt quãng đời còn lại nữa.
Ngược lại, nếu bạn chưa tìm cho mình một công việc mà bạn hằng khát khao và mơ ước. Nghĩa là bạn đang phải tiếp tục làm việc đấy.
Chúc mọi người mỗi ngày có thật nhiều niềm vui trong cuộc sống và công việc.
Xin trích dẫn bài thơ "Vui mà sống" của một tác giả:
"Vui mà sống dù đời đầy đau khổ
Buồn làm chi bạn hỡi thở than chi
Ôm sầu lo phỏng có ích lợi gì
Can đảm lên chấp nhận “thì hiện tại”.

Tình tan vỡ ta mau xây dựng lại
Dù gian lao, cực khổ chớ than van
Tập kiên tâm, bền chí vượt nghèo nàn
Nếu bạn muốn một ngày mai tươi sáng.

Xua đi những u sầu và chán nản
Nó chỉ làm tê liệt bộ thần kinh
Tạo nguồn vui lành mạnh ở chính mình
Nuôi hoài bão bổ sung nguồn sinh lực.

Trong cuộc sống còn bao điều bực tức
Chuyện trần gian còn lắm lúc bất công
Chịu trăm cay ngàn đắng tái tê lòng
Hãy bình tĩnh vượt qua cơn bĩ cực.

Gặp tai ương ta nhủ lòng ráng chịu
Hơn thua chi câu nhịn, chín câu lành
Trong trường đời còn đầy dẫy đua tranh
Hãy biết sống để cuộc đời có ích.

Đừng nhạo báng, đừng bao giờ khiêu khích
Làm phiền lòng bạn hữu ích gì đâu
Khen một câu sẽ có sức nhiệm mầu
Tạo niềm vui để bớt đi sầu não.

Lời người xưa vẫn thường hay khuyên bảo
Hãy soi gương để kiểm thảo lấy mình
Nếu mình cười, thì gương cũng cười tình
Bằng mình khóc, gương cũng hoà lệ khóc.

Non và biển giúp ta thêm bài học
Non muốn cao nên non đứng một mình
Biển bao la, bát ngát lại hữu tình
Đã thâu tóm vào lòng ngàn sông, rạch.

Người luyện chí không bao giờ quên sách
Một món ăn bổ ích của tinh thần
Nhạc-thi-ca am hiểu một đôi phần
Để hoà hợp hồn mình cùng vũ trụ.

Vươn mình lên với cánh lông đầy đủ
Như Đại Bàng vỗ cánh giữa trời xanh
Đừng so đo vì gặp chuyện chẳng lành
Vui mà sống dù đời đầy đau khổ."

Là một đồng nghiệp của ông anh Ngọc Hà Nguyễn một thời, em cũng kính phục tài làm thơ ca cùng sụ am hiểu lịch sử nước nh...
24/07/2013

Là một đồng nghiệp của ông anh Ngọc Hà Nguyễn một thời, em cũng kính phục tài làm thơ ca cùng sụ am hiểu lịch sử nước nhà. Dù em không còn dạy ở quê hương nữa, ông anh ở nhà gắng chỉ dạy cho các em những gì ông anh đang có bằng cái Tâm và Tri Đức của mình. Chúc ông anh hạnh phúc và sức khỏe.
Em xin ông anh đưa bài này vào page của em để chia sẻ với mọi người.

"Nhân sự kiện "vở luyện chữ kiến thức lịch sử.." mình xin đăng bài thơ mà mình tự làm về lịch sử nước nhà, mọi người nêu ai quan tâm xin hãy đọc và comment giùm. Mà cũng xin thanh minh luôn tác giả biêt là trạng nguyên Lương Thế Vinh ko phải đời Trần mà là đời Lê nhưng do luật bằng trắc nên đưa liều xin đùng ném đá nhé

Việt Nam sử lược.
Kính dâng tiên tổ - mùa xuân 2001

Nhân ngày giỗ tổ Hùng Vương,
Nghĩ về quá khứ hùng cường ông cha.
Bốn ngàn năm đã trôi qua,
Nào là thử thách, nào là chông g*i!
Chống thù trong, phá giặc ngoài,
Giữ nền văn hiến, sáng ngời Việt Nam.
Kể từ xưa thủa hồng hoang,
Vua Hùng dựng nước Văn Lang buổi đầu,
Đô kì đóng cõi Phong Châu,
Khí thiêng sông núi, voi chầu đế đô.
Một tay gây dựng cơ đồ,
Cháu con Lạc Việt ấm no quây quần.
Có ngoại xâm, chống ngoại xâm.
Đất nghèo sinh những anh hùng lên ba.
Đánh giặc bằng tre đằng ngà,
Lớn lên cùng những nong cà quê hương…
Thanh bình lễ hội muôn phương,
Âm vang tiếng trống Đông Sơn oai hùng.
Nhân dân nô nức tưng bừng,
Dâng vua đã có bánh chưng, bánh dày…
Thế rồi thế sự đổi thay,
An Dương Thục Phán lên thay vua Hùng
Vua cho xây dựng Loa thành,
Chọn nơi đất hiểm, chống ngăn Triệu Đà.
Thương thay trúng kế gian tà!?
Nỏ thần trao giặc, thành ra hại mình.
Mị Châu ơi, chuyện tử sinh,
Trái tim trong trắng, mối tình nghiệt oan,
Yêu chi mất cả giang san,
Ngàn năm tượng đá, hàm oan không đầu.
Dân ta chịu kiếp ngựa trâu,
Chia thành quận huyện, đứng đầu Hán quan
Đòi ngọc lụa, cướp bạc vàng,
Hung hăng thỏa chí tham tàn xâm lăng:
Đốt nhà, cướp của, giết dân …
Trâm điều bạo ngược – quỷ thần oán than.
Dễ gì yên định nước Nam
Kìa nghe trống trận đã vang khắp miền,
Hai Bà Trưng đã đứng lên,
Phất cờ nương tử, thay quyền tướng quân.
Một: xin đuổi giặc xâm lăng,
Hai: cho thỏa chí anh hùng nữ nhi,
Việc xưa chính sử còn ghi,
Hát giang còn đó, lời thề vang vang!
Tiếp theo có Triệu trinh Nương,
Chẳng cam tì thiếp, vung gươm chém kình.
Cưỡi voi, tỏ mặt anh hùng
Núi Tùng còn đó tiếng cồng năm xưa.
Đến Lý Nam Đế làm vua,
Nước Nam riêng cõi đâu thua nước người?
Vạn Xuân, ước vọng muôn đời
Dựng chùa Khai Quốc – rạng ngời sử xanh.
Rồi Mai Hắc Đế, Phùng Hưng,
Rồi bao nhiêu đấng anh hùng đứng lên.
Những mong giành lại chủ quyền,
Những mong chèo lái con thuyền cứu dân…
Màn đêm rồi cũng qua nhanh,
Ngàn năm bắc thuộc, cũng thành phôi pha
Bình minh chiếu khắp gần xa,
Nước ta lại có dân ta chủ quyền.
Kể từ khi có Ngô Quyền,
Bạch Đằng dậy sóng – làm nên sử vàng.
Mở trang sử mới vẻ vang,
Dân ta lại chủ giang san của mình.
Cờ lau tập trận vua Đinh,
Dẹp tan nội loạn danh xưng Tiên Hoàng
Giận thay Đỗ Thích gian ngoan,
Hại vua bởi giấc mộng vàng vu vơ.
Triều đình con trẻ làm vua,
Lăm le ngoài cõi giặc kia rập rình.
Đáng khen thục nữ trung trinh,
Khoác ngay long cổn lên mình vua Lê,
Lê Hoàn khởi nghiệp Tiền Lê,
Dẹp tan giặc Tống, yên bề nước non,
Vua thương dân như yêu con,
Đã thân cày ruộng, lại còn đắp đê.
Than ôi cơ nghiệp Tiền Lê,
Vào tay nghịch tử là Lê Ngọa Triều!
Giết anh độc chiếm vương triều,
Tham dâm, độc hiểm, trăm điều hại dân …
Nước Nam vốn trọng nghĩa nhân,
Có đâu để kẻ hôn quân hại người?
Đưa Lý Công Uẩn lên ngôi,
Định kinh đô mới về nơi rốn rồng.
Đặt cho tên mới: Thăng Long
Bừng bừng khí thế của rồng vươn mây.
Thủ đô xây dựng từ đây,
Trái tim cả nước từ nay hướng về.
Triều Lý trải chín đời vua
Mở mang đạo Phật: xây chùa, kính sư…
Lại còn rất trọng chữ Nho,
Xây Quốc Tử Giám cho trò đi thi,
Khắp nơi đua mở làng nghề
Nông nghiệp phát triển ấm no muôn nhà.
Đến loạn Quách Bốc xảy ra,
Dần dần triều Lý đổi ra triều Trần.
Vua Trần đoàn kết toàn dân,
Dưới cờ đại nghĩa ba lần kháng Nguyên.
Đông A hào khí trăm miền,
Chương Dương, Hàm Tử … làm nên Bạch Đằng.
Giặc sợ giặc rúc ống đồng,
Nước tan bóng giặc - thanh bình như xưa.
Ta về dựng lại kinh đô,
Càng tăng vẻ đẹp càng khoe vẻ giầu,
Văn nhân tài tử dập dìu,
Lại cho thi cử để chiêu hiền tài,
Ba năm một khóa chẳng sai
Để cho sĩ tử dùi mài sử kinh.
Nước Nam vốn thực chí nhân,
Chiến bào cởi xuống, vua Trần đi tu,
Hiền thay cảnh Phật dáng chùa,
Núi rừng Yên Tử đến giờ còn xanh.
Trong triều lắm bậc tài danh
Kìa nghe tiếng hịch trên sông còn truyền
Trạng Vinh, trạng Mạc, trạng Hiền …
Tài cao học rộng danh truyền thiên thu.
Bỗng đâu xảy loạn họ Hồ,
Vốn dòng ngoại thích tiếm vua xưng quyền.
Nước non bỗng chẳng bình yên,
Việc trong chưa ổn, giặc liền tiến sang,
Lại phen tan đá nát vàng!
Vua tôi đành chịu bắt mang xứ người.
Nghe lời cha dặn con ơi,
Về nơi đất hiểm, tìm người nghĩa nhân.
Ức Trai tìm đến Lam Kinh,
Soạn Bình Ngô sách – kính dâng bệ rồng.
Lam Sơn – tụ nghĩa anh hùng,
Mười năm khánh chiến công trình xiết bao.
Trải bao khó nhọc gian lao,
May nhờ linh khí – rùa trao gươm thần,
Cũng nhờ đoàn kết toàn dân,
Sĩ khí đã mạnh, tinh thần thêm hăng.
Trận Mã Yên chém Liễu Thăng,
Vương Quan, Mộc Thạch thất kinh quy hàng.
Mở ra hội nghị Đông Quan,
Giặc kia cút khỏi giang san tiên rồng.
Vua ta trở lại kinh thành,
Gươm thần trả lại cho thần Kim Quy.
Thanh bình gươm giáo mà chi?
Lấy đức trị quốc ắt thì dân yêu!
Phồn vinh đệ nhất Lê triều,
Thái Tông, Thái Tổ có nhiều công lao,
Giữ nên thịnh trị vui sao,
Kinh tế, chính trị ở vào thời hưng.
Đến đời Hồng Đức – Thánh Tông.
Anh minh tài đức muôn dân được nhờ.
Dựng bia Văn Miếu để thờ,
Ban hành bộ luật, đến giờ còn lưu.
Nước nhà văn nghiệp càng cao,
Tao Đàn vua lập – như sao chói lòa.
Trăm năm yên nghiệp nước nhà,
Triều Lê rồi cũng đến đà suy vong.
Chiêu Tông, Tương Dực bất nhân,
Để rồi lỗi đạo quân thần vua tôi.
Trong triều loạn lạc cướp ngôi,
Ở ngoài khởi nghĩa khắp nơi tưng bừng.
Còn đâu cái cảnh thanh bình,
Chiến tranh loạn lạc ruộng đồng bỏ hoang.
Dân tình sống cảnh lầm than,
Niềm đau dậy đất, nỗi oan thấu trời.
Thế rồi nhà Mạc cướp ngôi,
Nước nhà dần bước vào thời phân tranh.
Lê, Mạc chiếm đất tranh giành,
Rồi nhà Trịnh Nguyễn – Đằng Trong, Đằng Ngoài.
Nào ai có chịu nhường ai,
Chiến tranh loạn lạc xương phơi đấy đồng.
Sông Gianh – chứng tích hơn căm,
Một thời chia cắt non sông Lạc Hồng.
Thời loạn lạc, xuất anh hùng.
Tây Sơn khởi nghĩa nông dân cờ đào.
Giặc Xiêm, chúa Nguyễn lao đao,
Rạch Gầm, Xoài Mút – tạc vào sử xanh.
Quang Trung ra đất kinh thành,
Phù Lê diệt Trịnh – công danh rạng ngời.
Anh hùng tài lớn phục người,
Sĩ phu đất bắc ngàn người đều nghe.
Chỉ riêng Chiêu Thống u mê,
Đang tâm dẫn giặc quay về quê hương.
Cản sao ý chí quật cường?
Bước chân thần tốc trên đường tiến nhanh.
Hai chín vạn giặc xâm lăng,
Một cơn giận lớn, hóa thành bụi tro.
Gò Đống Đa tiếng đến giờ,
Mồ chôn quân giặc vết nhơ ngàn đời
Quang Trung hoàng đế lên ngôi,
Nước Nam ta lại rạng ngời triều ta.
Tiếc thay nghiệt ngã trời già,
Anh hùng vắn số thành ra cũng sầu.
Tây Sơn chẳng được bền lâu,
Gia Long tái lập bên lầu Phú Xuân.
Mới hay trong cảnh trăm năm,
Giang sơn là nợ, anh hùng phải mang.
Ngàn năm tổ quốc Việt Nam,
Giờ đây mới thực vẹn toàn quê hương.
Phía tây là dãy Trường Sơn,
Phía đông hòn ngọc sóng vờn biển xanh.
Từ Cà Mau đến Cao Bằng,
Non sông một dải bức tranh quê mình.
Phú Xuân thành đất thần kinh,
Mười ba triều Nguyễn lưu danh chốn này.
Trăm năm bao cuộc đổi thay…
Nước Nam ta lại đến ngày suy vong.
Giặc Tây phương đến xâm lăng
Vua tôi nhà Nguyễn dần dâng đất này.
Nhận làm thuộc địa nhục thay?!
Hai tròng một cổ đọa đày muôn dân.
Sục sôi máu lửa hờn căm,
Dân ta quyết chẳng chịu dâng quê mình.
Từ non cao đến đồng bằng,
Hương Khê, Yên Thế, Ba Đình …đứng lên.
Một lòng theo hịch Cần Vương,
Anh hùng khắp chốn vùng lên không ngừng,
Như lời dạy lũ xâm lăng,
“Nước Nam còn cỏ” chớ hòng yên thân …
Thế rồi có bậc thánh nhân,
Lên tàu từ bến nhà Rồng ra đi.
Gian nan người có quản gì?
Bao năm tìm một lối đi cho đời.
Ngày nào nước mắt Bác rơi,
Khi người tìm thấy mặt trời nước Nga.
Đây rồi độc lập dân ta,
Đây là cơm áo, đây là tự do.
Vui sao ánh mắt Bác Hồ?!
Để rồi từ đó Đảng ta ra đời
Vùng lên nô lệ khắp nơi,
Tiến theo cờ Đảng chôn vùi xâm lăng,
Mùa thu tháng tám lẫy lừng,
Ba Đình lịch sử khai sinh nước nhà.
Bốn ngàn thế hệ chúng ta,
Cùng về nghe giọng Cha già tuyên ngôn.
Như sau một tiếng sấm dồn,
Bao nhiêu u ám đêm tàn sạch không.
Toàn dân đoàn kết một lòng,
Ta đi theo Đảng chín năm trường kì.
Xẻ đường bạt núi mà đi,
Nghe lời Bác gọi sợ gì giặc kia.
Để rồi Việt Bắc, Đông Khê,
Để rồi Biên Giới, rồi về Điện Biên.
Thế rồi thế giới biết tên.
Việt Nam thắng Pháp làm nên thần kì?!
Pháp thua lại có Mĩ kia,
Lấy sông Bến Hải định chia quê mình?
Ta đi tiếp cuộc trường chinh,
Như thần Phù Đổng vươn mình đứng lên.
Bước chân nát đá trăm miền,
Tai bèo xẻ núi, búa liềm dời non
Gan không núng chí không sờn
Đánh cho Mĩ Ngụy kinh hồn mới thôi.
Nước non chẳng thể chia đôi,
Dẫu cho đạn nổ, bom rơi xá gì?
Thế rồi hiệp định Pari,
Giặc Mĩ thảm bại cuốn cờ rút quân.
Và ta xốc tới bảy nhăm,
Mùa xuân toàn thắng, mùa xuân vĩnh hằng.
Nước nhà sạch bóng xâm lăng,
Bắc Nam sum họp vui mừng xiết bao!"
LARA81HN

Cảm ơn nhà báo Lothar A. Baltrush. Những gì ông đã dành cho cô gái Quảng Trị yêu thương khiến tôi thực sự xúc động. Chúc...
15/07/2013

Cảm ơn nhà báo Lothar A. Baltrush. Những gì ông đã dành cho cô gái Quảng Trị yêu thương khiến tôi thực sự xúc động. Chúc ông súc khỏe và gặp nhiều may mắn để làm được nhiều việc có ích cho cuộc đời. Chúc em Huyền - người con gái Quảng Trị học giỏi và thành đạt.

(Dân trí) - Đi xe máy từ Đức sang Việt Nam để thăm một bé gái nghèo Quảng Trị, nhà báo Đức- Lothar A. Baltrusch chia sẻ, chuyến hành trình gần 2 tháng ấy đầy ắp những kỷ niệm thú vị và ông đã thực sự xúc động khi gặp bé Phạm Thị Thảo Huyền… >> Nhà báo Đức đi xe máy sang Việt Nam để... thăm...

Ý nghĩa hình tượng các con vật trên kiến trúc đền, chùa, lăng tẩm, miếu mạo ở Việt NamHình tượng RồngĐối với các nước ph...
01/07/2013

Ý nghĩa hình tượng các con vật trên kiến trúc đền, chùa, lăng tẩm, miếu mạo ở Việt Nam

Hình tượng Rồng
Đối với các nước phương Đông, con rồng là kiệt tác sáng tạo nghệ thuật có lịch sử lâu đời. Trên thực tế, rồng chỉ là sản phẩm của nghệ thuật, vì nó không tồn tại trong thế giới tự nhiên mà là sự sáng tạo nghệ thuật siêu tự nhiên. Cùng với sự phát triển của lịch sử, từ lâu các nước phương Đông hình thành nên quan niệm phổ biến về con rồng, tổng hợp trong con vật linh thiêng này là trí tuệ, tín ngưỡng, niềm tin, lý tưởng, nguyện vọng, sức mạnh... Trải qua bao đời, các nhà văn, nhà thơ, họa sĩ ở mỗi nước phương Đông đã dần tạo cho con rồng trở thành biểu tượng cao quý và sức sống vĩnh hằng, có ảnh hưởng to lớn, ý nghĩa sâu sắc đối với đời sống xã hội ở mỗi nước.

Đối với dân tộc Việt Nam, ngoài nét chung nói trên, rồng còn có ý nghĩa riêng, đó là nó chỉ dân tộc Việt Nam có xuất xứ từ con rồng cháu tiên. Từ câu chuyện huyền thoại chàng Lạc Long Quân lấy nàng Âu Cơ đẻ ra bọc trăm trứng, sau nở thành một trăm người con, hình ảnh con rồng đã dần dần ǎn sâu vào tâm thức của người Việt. Hà Nội là thủ đô cả nước, với tên gọi đầu tiên: Thăng Long (rồng bay). Vùng Đông Bắc nước ta có Hạ Long (rồng hạ), một trong những thắng cảnh đẹp nhất nước. Đồng bằng Nam Bộ phì nhiêu được làm nên bởi dòng sông mang tên Cửu Long (chín rồng). Không những là biểu tượng cho xuất xứ nòi giống dân tộc Việt Nam, rồng còn là thần linh, chủ của nguồn nước, mang lại sức sống mãnh liệt, làm cho mùa màng tốt tươi. Rồng là biểu tượng của sức mạnh, chính vì vậy mà các vua chúa đã lấy hình tượng rồng đại diện cho uy lực triều đình. Thời Lê, rồng trở thành bản mệnh của nhà vua. Hình tượng rồng được thêu lên tấm áo vua mặc.

Trong thời kỳ đất nước ta bị lệ thuộc vào phong kiến phương Bắc, rồng Việt Nam chịu ảnh hưởng của những con rồng các thời Tần, Hán, Đường, Tống... và được cách điệu hóa dần dần để biến thành rồng hoàn chỉnh, tượng trưng cho uy quyền độc tôn của vua chúa phong kiến và thường được trang trí ở những nơi linh thiêng. Vào thế kỷ XI, dưới triều Lý, chế độ phong kiến Việt Nam bắt đầu được xác lập. Con rồng thật sự của Việt Nam đã được ra đời. Cho đến nay, rồng vẫn được sử dụng trong kiến trúc tôn giáo theo một số nét: mắt quỷ, sừng nai, tai thú, trán lạc đà, miệng lang, cổ rắn, vảy cá chép, chân cá sấu, móng chim ưng. Và con rồng luôn là hình ảnh sâu đậm trong tâm hồn mỗi người Việt Nam.

Hình tượng con Rùa
Về mặt sinh học, rùa là loài bò sát lưỡng cư có tuổi thọ cao và thân hình vững chắc. Nó có thể nhịn ǎn uống mà vẫn sống trong một thời gian dài. Rùa không ăn nhiều, nhịn đói tốt nên được coi là một con vật thanh cao, thoát tục. Trên bàn thờ ở các đền chùa, miếu mạo, chúng ta thường thấy rùa đội hạc, rùa đi với hạc trong bộ đỉnh thơm ngát và thanh tịnh.

Rùa tượng trưng cho sự trường tồn và bất diệt. Hình ảnh rùa đội bia đá, trên bia đá ghi lại sử sách của dân tộc Việt Nam chứng tỏ rùa là loài vật chuyển tải thông tin và văn hóa. Tuy không phải là con vật của Phật giáo, nhưng rùa cũng là biểu trưng cho sự trường tồn của Phật giáo. Trong một số ngôi chùa thời Lý - Trần, rùa được chạm thành tường bằng đá làm bệ đội bia. Dáng rùa đầu to, mập, vươn ra khỏi mai, mõm thuôn nhọn, mắt nhỏ, bốn chân khép sát vào thân mai. 82 tấm bia đã ghi tên tiến sĩ đỗ đạt được đặt trên lưng rùa, một con vật biểu hiện sự trường tồn, hiện còn lưu giữ tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Hà Nội là bằng chứng hùng hồn biểu hiện nền văn hiến bất diệt của dân tộc Việt Nam.

Hình tượng chim Phượng
Phượng là linh vật được biểu hiện cho tầng trên. Phượng thường có mỏ vẹt, thân chim, cổ rắn, đuôi công, móng chim cứng đứng trên hồ sen. Với ý nghĩa đầu đội công lý, mắt là mặt trời, mặt trǎng, lưng cõng bầu trời, lông là cây cỏ, cánh là gió, đuôi là tinh tú, chân là đất, vì thế phượng tượng trưng cho cả vũ trụ. Khi phượng ngậm lá đề hoặc ngậm cành hoa đứng trên đài sen, nó biểu hiện là con chim của đất Phật. Tức là có khả nǎng giảng về đạo pháp, làm nhiệm vụ giống như các nữ thần chim: nhảy múa, hát ca chào mừng Phật pháp.

Quan niệm của người Việt Nam cho rằng phượng xuất hiện báo hiệu đất nước được thái bình. Chim phượng là loài chim đẹp nhất trong 360 loài chim. Nó có thân hình quyến rũ, kết tinh được vẻ đẹp, sự mềm mại, thanh lịch, vẻ duyên dáng của tất cả các loài chim. Chim phượng còn tượng trưng cho nữ tính, cho phái đẹp của tầng lớp quý phái.

Hình tượng con Hạc
Ở Việt Nam hạc là con vật của đạo giáo. Hình ảnh hạc chầu trên lưng rùa trong nhiều ngôi chùa, miếu..., hạc đứng trên lưng rùa biểu hiện của sự hài hòa giữa trời và đất, giữa hai thái cực âm - dương. Hạc là con vật tượng trưng cho sự tinh tuý và thanh cao. Theo truyền thuyết rùa và hạc là đôi bạn rất thân nhau. Rùa tượng trưng cho con vật sống dưới nước, biết bò, hạc tượng trưng cho con vật sống trên cạn, biết bay. Khi trời làm mưa lũ, ngập úng cả một vùng rộng lớn, hạc không thể sống dưới nước nên rùa đã giúp hạc vượt vùng nước ngập úng đến nơi khô ráo. Ngược lại, khi trời hạn hán, rùa đã được hạc giúp đưa đến vùng có nước. Điều này nói lên lòng chung thuỷ và sự tương trợ giúp đỡ nhau trong lúc khó khăn, hoạn nạn giữa những người bạn tốt.

Truyền thuyết về nguồn gốc chữ PhúcThời nhà Tống - Trung Quốc có một nhà phong thủy hết sức lỗi lạc tên là Thái Sơn. ông...
30/06/2013

Truyền thuyết về nguồn gốc chữ Phúc

Thời nhà Tống - Trung Quốc có một nhà phong thủy hết sức lỗi lạc tên là Thái Sơn. ông ta thường xuyên được mời để xem phong thủy xây nhà cất quán. tiếng đồn về tài ba của ông ta ngày một lan truyền đi xa. Thái sơn có một cái sở thích là ăn lòng gà. và mỗi lần làm việc cho một nhà nào đó, chủ nhà đều thiết đãi Thái Sơn món mà ông ta yêu thích.
tại Bắc Kinh có một gia chủ muốn mời Thái Sơn đến xem phong thủy và cất quán cho gia đình mình. trong thời gian làm việc tại đây, thái sơn được gia chủ tiếp đãi rất nhiệt tình, hàng ngày bữa ăn của ông đều có món lòng gà- món khoái khẩu nhất của ông ta.
sau một thời gian làm việc vất vả thì quán của nhà gia chủ đó cũng đã xây xong. nhà chủ làm bữa tiệc liên hoan chia tay và cảm ơn Thái Sơn. Có một điều rất lạ, là trên bàn không thấy bày món khoái khẩu của Thái Sơn. ông ta hết sức buồn và tức giận và nghĩ rằng: " phải chăng khi ta đã làm xong việc cho nhà nó, nó không coi trọng ta nữa"
ông liền sai người đệ tử của mình bí mật thay đổi một số hướng cột, kèo trong quán nhà gia chủ đó ( theo thuyết phong thủy thì chỉ cần thay đổi một số hướng trong nhà thì gia đình đó sẽ làm ăn thất bát, vở chồng không hạn phúc, và con cái không thành đạt).
bữa tiệc kết thúc, Thái Sơn và người đệ tử chia tay gia đình gia chủ nọ. trước khi lên ngựa, chủ nhà có đưa cho Thái Sơn một cái bọc đên và dặn rằng " đi đường thấy đói và mệt thì hãy bỏ ra".
đi một đọan đường, thấy mệt ông xuống ngựa và ngồi nghỉ ngơi bên gốc cây đạ thụ. nhớ tới lúc chia tay gia chủ kia có trao cho ông 1 cái bọc đen, ông liền bỏ ra xem. " ui chao" tòan là lòng gà.- mình đã nghĩ sai cho chủ nhà rồi.
ông ngẫm nghĩ " phải chăng trong bữa tiệc có quá nhiều người, nếu như bỏ số lòng gà này lên thì ông sẽ không được thưởng thúc trọng vẹn, vì thế chủ nhà đã gói lại và để ông mang đi"
Thái Sơn thấy mình đã sai, bèn sai người đệ tử của mình quay lại và mang theo một chữ "PHÚC". dặn rằng: " con hãy mang chữ PHÚC này tới nhà đó và dán NGƯỢC trước cửa nhà. Nếu mà ông ta có hỏi thì chỉ cần nói rằng " thầy con dặn vậy".
người đệ tử làm theo của Thái Sơn ....
Tin về Thái Sơn, nhà làm phong thủy nồi tiếng treo một chữ " PHÚC NGƯỢC" lan truyền khắp thiên hạ.
những người hiếu kỳ đều tới xem công trình đó.
khi đến họ không thể đứng ngoài chỉ trỏ mà phải vào trong quán nhâm 1 ly rượu, nhắm một chút mồi.
Dần dần quán của chủ nhà nọ làm ăn phát đạt vì có rất nhiều khách đến ăn. (thay vì làm ăn thua lỗ khi Thái Sơn thay đổi hướng cột, kèo)...
Một năm sau, trên bước đường đời, ông ta đã gặp lại Thái Sơn.
ông ta hỏi rằng:
- Tại sao năm đó, khi đã chia tay rồi ông lại sai đệ tử của ông quay lại dán chữ PHÚC NGƯỢC trước của nhà tôi.
Thái Sơn trả lời rằng:
- Đó không phải là PHÚC NGƯỢC mà là PHÚC ĐÁO ( theo tiếng Trung Quốc thì ngược là "daole- ngược rồi", nhưng mà người ta đọc nhanh thì sẽ thành "fu dao le- phúc đến rồi".)
Hiện nay thì người Trung Quốc rất hay treo chữ PHÚC trong nhà. mọi người đi qua đều hô to " fu dao le".
Như vậy gia đình đó sẽ có một năm tràn ngập PHÚC.

Ý nghĩa chữ PHÚCMột câu chuyện trong nhân gian kể rằng:Đời vua Gia Long, có người lập nhiều công trạng được nhà vua hỏi ...
30/06/2013

Ý nghĩa chữ PHÚC

Một câu chuyện trong nhân gian kể rằng:
Đời vua Gia Long, có người lập nhiều công trạng được nhà vua hỏi muốn
tưởng thưởng gì.
_Tâu Ngài! hạ thần chỉ xin được một "trự"!
("Trự" tức là chữ "chữ", đọc theo âm Huế, chỉ một đồng tiền ngày xưa như
trong câu:
Tưởng chơi ba "chữ" cho vui vậy
Bỗng chốc nên quan đã sướng chưa)
(Nguyễn Công Trứ)
Vua bèn hỏi: "Trự gì?".
Người kia nói:
_Xin đặng "trự" Phúc!
Vua cười đáp ngay:
Tiền bạc chức tước thì ta có thể ban, chứ "Phúc" thì chỉ có trời ban mà
thôi. Cả giòng họ ta, chỉ nhờ có một chữ Phúc mà vinh hiển nhiều đời...
Đúng thế thật, giòng họ nhà Nguyễn đã lót chữ Phúc vào tên của họ (chẳng
hạn như vua Gia Long là Nguyễn Phúc Ánh). Và cũng nhờ duyên phúc được
thần linh mách bảo, kinh đô Huế đã được chọn ở đất Phú Xuân. Trên địa
điểm mà bà Tiên trên trời hiện ra và sau được cất một ngôi chùa với ngọn
tháp cao. Đó là Chùa Linh Mụ hay Thiên Mụ và ngôi tháp Phước Duyên (ở
Trung và Nam Việt đọc trại ra là Phước).
Chữ Phúc là một chữ mà chúng ta có thể nói và viết nhiều lần để chúc
tụng nhau nhưng hầu như ít ai để tâm suy nghĩ nó là gì?
Người Trung Hoa vào dịp Tết thường viết chữ Phúc trên một vuông giấy đỏ
dán ngoài cửa và coi đó gần như một lá bùa chúc tụng điều may mắn. Cầu
kỳ hơn nữa, chữ Phúc còn được viết theo một trăm kiểu chữ triện - gọi là
Bách Phúc Toàn Đồ
Nếu một kiểu chữ Phúc biểu lộ một khía cạnh nhìn riêng biệt thì ta thấy
rõ ràng có một trăm lối nhìn khác nhau về chữ Phúc. Những đường nét
ngoằn ngoèo kiểu chữ bùa của chữ Phúc chẳng biết có người Tàu nào hiểu
được hết tại sao phải viết như vậy không, chứ cái tác dụng trên phương
diện tâm lý rõ ràng là sâu đậm đối với một tâm hồn nhạy cảm với thế giới
thần kỳ. Vào ngày Tết người Tàu còn có thể dán thêm một giải giấy đỏ
viết câu "Thiên Quan Tứ Phúc" hay chơi chữ bằng cách dùng hình ảnh con
dơi (gọi là Phúc, đồng âm với chữ Phúc là Hạnh Phúc) để chúc tụng lẫn
nhau.
Người ta thường nói: "Họa vô đơn chí, Phúc bất trùng lai" (Phúc không
hai, tai không một). Do đó người Tàu lại chơi chữ bằng cách vẽ hai con
dơi đâu cánh lại, ngụ ý là Trùng Phúc; họ còn vẽ thêm một lúc 5 con dơi
biểu tượng cho Ngũ Phúc, đó là theo Kinh Thi có năm điều Phúc:
Giàu (phú)
An lành (an ninh)
Sống lâu (thọ)
Có đức tốt (du háo đức)
Chết vào tuổi già (khảo chung mệnh)
Ngoài ra người Tàu còn có tranh Tứ Phúc (hình hai đứa trẻ) và tranh Vạn
Phúc.
Chiết Tự Ngũ Phúc
Người Việt chúng ta thường nói Hạnh Phúc đi đôi với nhau trong lời chúc
tụng, nghĩ rằng chỉ nói lên một sự việc. Kỳ thực Hạnh và Phúc đều có ý
nghĩa riêng nếu ta đi vào gốc gác tầm nguyên.
Hạnh tức là điều may, sự gì đáng bị thiệt mà lại thoát gọi là Hạnh (Tự
Điển Thiều Chửu). Nếu chiết tự chữ Hạnh trong kiểu cổ triện ta thấy chữ
Nhân viết chồng lên chữ Nghịch nghĩa là con người may mắn vượt lên -
nghịch cảnh tai nạn
Phúc: Điều hay, điều tốt, do việc làm nhân đức mà ra (Tự Điển Khai Trí
Tiến Đức).
Nếu ta lại đi sâu vô chiết tự của chữ Phúc ta thấy có bộ Thị và chữ Phú.
Điều Phúc không phải tự con người cho mà phải do sự cầu chúc thần thánh
ơn trên. Chúc là điều mà con người cầu khẩn (bằng lời nói đối với ơn
phước của Thần Thánh).
Chiết tự chữ Thị ta thấy có chữ Thượng là trên. Chữ Thị là trời bảo cho
biết.
Ba gạch đường dọc xuống tượng trưng cho ánh sáng mặt trời (nhật) mặt
trăng (nguyệt) và các vì sao (tinh) rọi xuống từ trời. Do đó, theo sách
Thuyết Văn nói nhìn điểm trên trời báo xuống, con người sẽ thấy điều
lành dữ (kiết hung) sẽ xảy ra cho mình, ấy là Thị (Thiên thùy tượng,
kiến kiết hung; sở dĩ thị nhân dã).
Phúc có bộ Thị như vậy là điều con người phải chúc ơn trên ban xuống.
Điều mà con người cầu mong nhất là sự giàu có (Phú)
PHÚC = THỊ + PHÚ
PHÚ = CAO + ĐIỀN
LỢI = HÒA + ĐAO
XUÂN CÓ MẶT TRỜI ẤM
THU = HÒA + HỎA
Phú có nghĩa là giàu, theo một sự giải thích, gồm chữ Cao và chữ Điền
phối hợp lại, ngụ ý nói thóc lúa từ đất ruộng chất cao đầy nhà. Thành ra
quan niệm về hạnh phúc sung sướng nguyên thủy là cầu mong sự dồi dào dư
dả. Trong một xã hội ngày xưa sự dồi dào được tượng trưng bằng hình ảnh
thóc lúa chứa đựng đầy kho. Lúa gạo nhiều tức là lợi tức nhiều. Lợi viết
theo chữ Nho gần chữ Hòa (lúa) và con dao tức là lúa gạo được cắt bằng
lưỡi dao (đao) hái từ ngoài đồng đem về. Ta thấy cách phân chia lịch
thành bốn mùa Xuân Hạ Thu Đông của Trung Hoa cũng đã dựa trên ý niệm
trồng trọt cây cỏ thóc lúa mà ra.
Xuân sinh, Hạ trường, Thu liễm, Đông tàn. Mùa Xuân là mùa cây cỏ đâm
mầm, nảy lộc dưới ánh mặt trời ấm áp, nên đó là thời điểm chúc mừng cho
sự khởi đầu của một chu kỳ thời gian mới. Ta thấy cái nắng ấm của mặt
trời thấm vào lòng đất, dục dã những mầm non của cỏ cây đâm lên. Còn về
mùa Thu thì ngọn lúa chín đỏ rực rỡ để thâu hái. (Hòa cốc thục dã -
Thuyết Văn). Bên cạnh chữ Hòa (lúa), có chữ Hỏa (lửa). Dưới quan niệm
duy tâm của nhà nông ngày xưa, ảnh hưởng của quyền lực thiên nhiên đã
quyết định sự thâu hoạch của thóc lúa, phong đăng hỏa cốc là nhờ:
"Ơn trời mưa nắng phải thì"
Hạnh Phúc Của Trời Theo Nho và Nghiệp Báo Theo Phật!
Điều phúc lợi đương nhiên là do tay người cố công tạo ra nhưng phải có
ơn trời là yếu tố thiên nhiên đổ xuống qua tượng hình của chữ Thị đã
phân tách ở trên. Yếu tố Trời (Thiên) nếu hiểu theo một quan niệm quyết
định then chốt có thể thành ra một điều tiêu cực vì con người chỉ là đồ
chơi trong bàn tay tạo hóa hay sao? Và con người cũng không còn tự do
hành động ngay dù trong những điều nhỏ nhặt sinh sống hằng ngày đều do
trời sắp đặt, nói chi đến sự rủi may:
Vẻ chi ăn uống sự thường
Cũng còn tiền định khá thương lọ là
(Cung Oán)
Cuộc đời của con người sướng hay khổ trong trần thế chỉ là kết quả của
một bàn roulette hay cái con quay ấn định theo yếu tố rủi may trong chữ
Hạnh đã hàm chứa.
Quyền họa phúc trời tranh mất cả
Chút tiện nghi chẳng trả phần ai
Cái quay búng sẵn trên trời
Mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm.
(Cung Oán)
Nhưng ý niệm Trời chủ trương hai chữ Họa Phúc chỉ là một hạnh ngộ hay là
một sự kiện mù quáng vô đoan có thể làm nản lòng nản chí cho những ai bị
liệt vào hạng lỡ sinh ra dưới một vì sao xấu. Tuy nhiên nó có thể là một
lời an ủi cho những tâm hồn an phận, nuôi một niềm hy vọng về một chu kỳ
hết hồi bỉ cực, đến tuần thái lai: Tâm trạng chịu đựng khi gặp điều tai
nạn khổ đau sinh ly tử biệt là một tâm trạng.
"Lấy câu vận mệnh vơi dần nhớ thương"
Triết lý về nhân duyên của nhà Phật đã đem lại một màu sắc tích cực cho
hai chữ Họa Phúc của đời người. Phúc dày hay phúc mỏng cũng do chính con
người can dự quyết định "Có Trời mà cũng có ta", chữ Phúc chính là một
ân huệ mà con người tự tạo ra qua những hành động tốt của mình. Nó là
những hạt giống tốt được tay người tự gieo trên những mảnh đất mà nhà
Phật gọi là Ruộng Phước (Phước Điền). Riêng về ngành thuốc, quan niệm
gieo hạt phúc rất quan trọng trong mắt người xưa:
Nhớ câu "Y tích âm công"
Ta nên chứa Phước để dùng lâu thay
Hỡi ai có bụng như vầy
Đạo y ngày sáng, tiếng thầy nào hư.
(Đồ Chiểu - Ngư Tiều Vấn Đáp Y Thuật)
Lẽ công bằng trên cán cân thiên lý là gieo hạt giống thiện gặt điều hạnh
tốt, còn gieo giống ác thì thâu hái điều hung dữ mà thôi. Hành động của
con người làm trong một kiếp gọi là Nghiệp viết theo chữ Nho là một
thanh gỗ trên đó người ta dùng dao khắc những nấc đánh dấu một sự việc
đã làm, do đó dùng để dịch chữ KARMA của Phạn ngữ.
Đã mang lấy nghiệp vào thân
Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa.
(Kiều)
Do quan niệm họa phúc ở đời chỉ là sợi giây gieo nhân gặt quả trên, nên
người Á Đông chú trọng đến sự "làm ơn làm phước". Hơn thế nữa một việc
làm xấu hay tốt, do hành động của ta sẽ không những ảnh hưởng đến bản
thân ta - trong kiếp này hay kiếp sau - mà cũng sẽ ảnh hưởng đến con
cháu hậu duệ của ta. Trong lá số tử vi, cung phúc đức thuộc về những
điều mà con người thụ hưởng từ ông bà, cha mẹ... hay còn gọi là nghiệp.
Luật Nhân Quả và Phúc Trạch Tổ Tiên
Ngày xưa, người ta đã công nhận mối dây thiên nhiên về nhân quả một cách
đương nhiên. Người ta tin rằng hồn ma của người ta, sau khi chết có thể
trở về dương thế để đòi những món nợ nhân quả chưa thanh thỏa được lúc
sanh tiền. Thuở xưa, trước mỗi kỳ thi đều có lễ Tiến Trường do quan chủ
khảo thay nhà vua làm chủ tế, nghĩa là mời gọi các sĩ tử vào trường thi
để dự thí. Các học trò đi thi (sĩ tử) làm bài thi hay hay dở, ngoài cái
tài học của mình là lẽ đương nhiên, còn phải tùy thuộc vào sự báo ân báo
oán mà những hồn ma của những người đã chết khuất mày khuất mặt...
Sau khi tế Tiến Trường xong, giấy vàng bạc được hóa (đốt) và tưới ruợu,
thì loa sẽ gọi lớn rằng:
(Những hồn ma báo oan xin mời vào trước
Những hồn ma báo ân xin mời vào sau
Còn học trò dự thí, sẽ vào sau rốt...)
Thành ra thi đậu hoặc thi trượt của một người học trò phải có sự chứng
giám của thế giới thiêng liêng... Đọc cuốn Vang Bóng Một Thời của Nguyễn
Tuân, trong chuyện Báo Oán, có một chuyện một người học trò rất giỏi mà
văn bài thường làm xuất sắc trong các kỳ thi khảo hạch thường xuyên đến
nỗi được thiên hạ gọi tên là ông Đầu Xứ. Thế mà đi thi lần nào cũng
trượt chỉ vì bị một hồn ma của một người chết oan ức trong gia đình hiện
về trả thù khiến cho ông Đầu Xứ này lúc làm văn bài bị đau bụng dữ dội
và xây xẩm mặt mày không viết trọn được bài thi... Đó là chuyện Báo Oán,
còn chuyện Báo Ân thì cũng lắm chuyện ly kỳ. Dân Á Đông tin rằng trên
Thiên Đình có một vị thần gọi là Văn Xương Đế Quân cai quản việc văn
chương thi cử ở trần gian. Dưới quyền Văn Xương có hai vị thần phụ tá,
vị thần Chu Y mặc áo đỏ giúp cho những người năng làm việc thiện được
thi đỗ. Nếu văn bài của họ bị kém thì thần sẽ nhập vào và cầm tay họ
mà... viết văn giùm cho họ. Còn đối với kẻ ác đức tuy rằng học giỏi thần
Khôi Tinh sẽ cố tình làm cho họ thi rớt bằng cách này hay cách nọ như
đánh đổ mực trên giấy, hay vô ý viết lộn nét hay thừa nét vào những chữ
phạm húy để họ phải phạm trường quy mà bị loại.
Những chuyện vừa kể trên nếu nhìn với con mắt trần gian xác thịt gọi là
chuyện rủi rủi may may. Nhưng với quan niệm nhân quả tiền oan nghiệp
chướng, phúc trạch tổ tiên thì chuyện họa phúc ở đời là chuyện thần kỳ,
vì đầu óc con người không thể hiểu thấu được để giải nghĩa mối giây liên
hệ từ nhân đến quả.
Tóm lại, chữ Phúc của Á Đông bao hàm nhiều điều kỳ ảo tùy theo khía cạnh
nhìn hoặc là sự may rủi, rủi may, hoặc là số trời tiền định, hoặc là
nhân quả của nhà Phật v.v...

Address

Da Nang
55###X

Opening Hours

Monday 08:00 - 23:30
Tuesday 08:00 - 23:30
Wednesday 08:00 - 23:30
Thursday 08:00 - 23:30
Friday 08:00 - 23:30
Saturday 08:00 - 23:30
Sunday 08:00 - 23:30

Telephone

+84904040937

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when TIẾNG ĐÀN BẦU.Mai Chính.English Tour Guide posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Business

Send a message to TIẾNG ĐÀN BẦU.Mai Chính.English Tour Guide:

Share

Category