Hướng nội đi đâu

Hướng nội đi đâu Cựu học sinh chuyên Văn
Người hướng nội hay đi và kể chuyện
Follow kênh và chia sẻ về câu chuyện văn hoá, lịch sử và đời sống 🇻🇳

Hướng nội đi đâu "chiều" Thành phố Nam Định rồi Hải Hậu, Xuân Trường, Mỹ Lộc quá rồi. Chẳng qua quê hương Giao Thủy nhà ...
22/09/2026

Hướng nội đi đâu "chiều" Thành phố Nam Định rồi Hải Hậu, Xuân Trường, Mỹ Lộc quá rồi. Chẳng qua quê hương Giao Thủy nhà tôi gì cả.

Đây đây, xin phép cứ tuần tự ghé qua. Em còn ghé qua Hải Dương, Hải Phòng, Thái Bình,... chứ có phải chiều chuộng gì đâu ạ..

Có 1 vùng đất, nơi người dân không chỉ thờ thần, mà còn kể câu chuyện một vùng đất đã được con người tạo nên như thế nào.

Ở xã Giao Tiến, huyện Giao Thủy, cách dốc Hoành Nha khoảng 3km, có một khu di tích gồm 3 ngôi đền và 2 ngôi chùa. Điều đặc biệt là cả 5 công trình đều thờ chung một vị thành hoàng và những vị tổ đã khai phá vùng đất Hoành Nha.

Năm 1428, sau khi đánh thắng quân Minh, triều đình nhà Lê khuyến khích khai hoang lấn biển. Nhưng đến thời vua Lê Nhân Tông, niên hiệu **Diên Ninh thứ 3 (1456)**, nơi đây vẫn chỉ là vùng sình lầy hoang hóa.

Một dòng họ Nguyễn từ làng Hòe Nha ở phía bắc thành phố Nam Định đã xuống quai đê lấn biển, lập làng mới và đặt tên là Hòe Nha, để nhớ về quê cũ. Sau đó, các dòng họ Hoàng, Lê, Vũ, Phạm, Từ, Trịnh... từ Hòa Bình, Hà Nam tiếp tục tìm về khai hoang.

Có lẽ điều khiến mình thích nhất là bài vị trong đền không chỉ dành cho thần linh. Người dân còn thờ cả những người có công khai phá đất làng.

Trong văn tế có câu:

*“Khi xưa là cánh đồng đất mặn bỏ hoang
Đến nay trở nên phì nhiêu...”*

Chỉ mấy câu ấy thôi đã kể gần như trọn một lịch sử: từ đất mặn thành ruộng đồng, từ ruộng đồng thành làng xóm.

Năm 1787, một trận lụt lớn khiến dân làng phải chuyển về phía cửa Hà Lạn, rồi đổi tên **Hòe Nha thành Hoành Nha**.

Ngày nay, dấu tích ấy vẫn nằm trong đền Trung, đền Thượng, đền Chính, chùa An Hưng và chùa Hưng Long. Các công trình phần lớn mang dấu ấn kiến trúc thời Nguyễn, với những mảng chạm khắc rất tinh xảo.

Đến tháng 2 âm lịch**, dân làng lại rước từ đền Chính, đền Trung về đền Thượng mở hội, rồi mời các lão ông, lão bà dự **yến lão**.

Thiết nghĩ, điều đáng quý nhất ở Hoành Nha không chỉ là những ngôi đền, ngôi chùa.

Mà là cách một cộng đồng nhớ về nguồn gốc của chính mảnh đất mình đang sống**.

Bởi trước khi có làng, đã có những con người đi khai hoang. Và trước khi có những mái đình, mái chùa, nơi này từng chỉ là **một cánh đồng đất mặn bỏ hoang**.

Nói về vốn chữ nghĩa thì Thành Nam quê tôi chẳng kém cạnh nơi đâu,..Văn xuôi dân gian Nam Định nhiều và phong phú:     S...
19/09/2026

Nói về vốn chữ nghĩa thì Thành Nam quê tôi chẳng kém cạnh nơi đâu,..
Văn xuôi dân gian Nam Định nhiều và phong phú:
Sự tích về các vị thần, thành hoàng làng... được truyền tụng trong các thế hệ cư dân, được ghi rải rác ở các thần phả, thần tích.
Trước người ta truyền miệng, dần dần có chữ Nho, chữ Quốc Ngữ. Họ chép lại và để trang nghiêm trong những góc của Làng/ thôn,..

Nhiều đình, chùa, đền, miếu có truyền thuyết về sự tích, xây dựng hoặc các sự kiện có liên quan.

Không ít dòng họ có lưu truyền sự tích (truyền miệng hay ghi chép) về tổ tông.
Thậm chí còn vẽ lưu đồ dòng tộc, chạm khắc những đặc trưng về họ mình.

Hầu như mỗi danh nhân đều có những hành trạng, hoặc giai thoại.
So với tục ngữ, ca dao, văn xuôi dân gian Nam Định mang tính địa phương rõ rệt với những nhân vật, sự kiện, địa danh cụ thể:

Truyền thuyết về Đức thánh Minh Không, về Kiến quốc phu nhân Lương Minh Nguyệt, về Mẫu Liễu... đương nhiên là sản phẩm tư duy các thế hệ người Việt Bắc Bộ, của quá trình tiếp xúc, giao lưu giữa các vùng trong cả nước. Tuy nhiên không thể phủ nhận được những dấu ấn Nam Định, trong quá trình từ sáng tạo ban đầu đến bổ sung, phát triển của việc các truyền thuyết, huyền thoại này.

Minh Không - vị thiền sư nổi tiếng, người được coi là danh sư, được suy tôn là ông tổ của nghề đúc đồng của cả miền châu thổ - theo truyền thuyết lại in đậm dấu ấn thuở sinh thời trên vùng Nam Định. Những viên đá - dùng để cân cá của Minh Không còn để lại dọc đường, những chợ Tương Đông, Liên Tỉnh - nơi Minh Không thường ngày ra bán cá, đến ngôi chùa Giao Thuỷ khi trở thành thiền sư Minh Không...

Rồi, Cô hàng bán nước là hình ảnh quen thuộc trong kho tàng truyện kể dân gian, truyện cổ tích Việt Nam như tiêu biểu cho kinh nghiệm, trí thức, thông tin của mỗi làng quê người Việt. Đó là những bà hàng nước vô danh từng chỉ cho các vị tướng quân như Kiều Công Hãn, Đoàn Thượng... đầy mình thương tích từ trận mạc trở về tìm được nơi yên nghỉ cuối cùng trên mảnh đất quê; là bà hàng nước không rõ họ tên bên sông Bạch Đằng tỏ tường lịch con nước triều cho Hưng Đạo Vương bố trí trận địa cọc dìm xác giặc Nguyên Mông...

Nam Định góp vào mô típ văn học dân gian ấy của Việt Nam một cô hàng nước có đầy đủ họ tên quê quán: Lương Minh Nguyệt ở Ngọc Nhuế - Ý Yên. Điều đặc biệt quan trọng là trong truyền thuyết này, tình cảm, trí thức kinh nghiệm của cô (bà) hàng nước thông thường đã được kết luyện lại, trong hoàn cảnh điển hình của lịch sử văn hoá Việt Nam - là tình cảm yêu nước, là tìm đến với ngọn cờ đại nghĩa của Lam Sơn, thành mưu kế trực tiếp tiêu diệt quân xâm lược ngay trong hang ổ của kẻ thù, từ căn cứ gây tội ác của chúng.

Chính vì thế mà khi "cầm bút chép sử nước Nam", sử quan Lê Tung - vị tiến sĩ thời Lê Sơ, giai đoạn cực thịnh của Nho học Đại Việt, đã đặt cô gái bình đân của vùng chiêm trũng nghèo khó bên thành Cổ Lộng đầu thế kỷ XV ấy "ngang với Trưng nữ Vương". Điều đó cũng là trân trọng chung, đồng vọng với tâm tình của các thế hệ.

Nói về tín ngưỡng Tứ Phủ, Thuộc loại truyền thuyết với nhiều chi tiết, phong phú vào bậc nhất của kho tàng văn học dân gian Việt Nam là truyền thuyết về Mẫu Liễu. Hạnh phúc trong cuộc sống thế tục là mưu cầu, khát vọng không phải của riêng ai. Nếu trong văn chương bác học, dẫu bị chi phối, cương toả bởi những "Tam cương, Ngũ thường" của đạo Nho, "vô vi" của đạo Lão, "sắc, không" của Phật thiền vẫn tiềm tàng, day dứt thương xuyên với hiện thực: "xuân xanh chưa dễ hai phen lại, thấy cảnh càng thêm tiêc thiếu niên'', rằng "xuân bất tái lai"...thì con đường đi tới, khát vọng về hạnh phúc ấy trong tư duy văn học dân gian thể hiện thật giản dị và sâu sắc khi kết tinh trong hình tượng Mẫu Liễu.

"Tứ bất tử " của Việt Nam đều có quê hương, hành trạng cụ thể. Tản Viên- là chàng trai xứ Đoài, Dóng của làng bên sông Đuống, Kinh Bắc xưa, Chử Đồng Tử của bờ bắc sông Cái xứ Đông... Nhưng trong số đó hẳn không có truyền thuyết nào mà nhân vật chính của nó lại phải trải qua những thực tế trường đời, của vòng sinh, hoá như Mẫu Liễu. Chính vì có tính chất điển hình, tiêu biểu như vậy mà hình tượng Mẫu Liễu có một sức lan toả, gần gũi đặc biệt.
Bên cạnh những truyền thuyết kể trên, không thể không nhắc đến những truyền kỳ về Điền Quận Công, về Cường Bạo đại Vương, về bà chúa Phùng Ngọc Đài, về thần Tam Bành, làm thành "Thiên Bản lục kỳ" của Nam Định.
Một bộ phận không nhỏ của văn xuôi dân gian Nam Định là sự tích của nhiều dòng họ. Trước khi được cố định, hay văn bản hoá trong các tộc phả, gia phả, bia ký của các dòng họ, sự tích hay những mẩu chuyện, ký ức về cội nguồn dòng họ được truyền ngôn từ đời này sang đời khác. Dạng này hay gặp ở những dòng họ đi khai hoang vùng đất mới phía Nam. Có thể kể tới sự tích dòng họ Ngô Bách Tính (Nam Trực), họ Ngô ở làng Thi (Xuân Hy - Xuân Trường), sự tích các ông tổ lập làng Quần Anh (Hải Hậu), dòng họ Vũ (Hoành Nha- Giao Thuỷ), chuyện khai hoang lập làng của dòng họ Phạm ở Hoàng Nam (Nghĩa Hưng)...

Hầu như không có một nhân vật nổi tiếng nào của Nam Định trong lịch sử không có giai thoại. Những giai thoại về Nguyễn Hiền, Đào Sư Tích, Lương Thế Vinh, Phạm Văn Nghị, Trần Bích San, Vũ Hữu Lợi, Tú Xương, nhà thơ Nguyễn Bính... như những giai thoại thuộc loại hay nhất trong sưu tập giai thoại Việt Nam. Nếu chất trí tuệ, thông minh, hóm hỉnh, sắc, gọn như là những đặc điểm nổi bật của giai thoại thì các giai thoại xung quanh các danh nhân Nam Định là biểu hiện điển hình.
Nói đến văn học Việt Nam không thể không nói tới ảnh hưởng, tác động qua lại giữa văn học dân gian với văn học viết, ở Nam Định điều này càng trở nên rõ rệt. Kho tàng văn học dân gian với dòng chảy mêng mang, và thấm đượm chất trữ tình của tục ngữ ca dao đã góp phần đắp bồi tâm hồn, tài năng nhiều thế hệ các nhà thơ, nhà văn Nam Định. Không phải ngẫu nhiên mà những bài thơ trữ tình, thấm đượm phong cách dân ca, ca dao, đượm hương đồng gió nội thuộc loại hay nhất trong văn học Việt Nam lại được nảy sinh ra ngay tại quê hương Nam Định, của những thi nhân người Nam Định như Nguyễn Bính, Trần Tuấn Khải, Đoàn Văn Cừ .

Cũng cần lưu ý rằng trong kho tàng truyền thuyết, truyền kỳ Việt Nam từ sớm đã thành ngọn nguồn cảm hứng, chất liệu cho không ít những tác phẩm văn chương bác học như "Chuyện về người con gái Nam Xương" hiện về day dứt trong cảm xúc của vị hoàng đế Lê Thánh Tông - chủ soái "Tao đàn nhị thập bát tú" của Đại Việt thế kỷ XV. Thế nhưng, những truyền thuyết về Mẫu Liễu thuộc loại hiếm trong tập hợp truyền kỳ Việt Nam, đã có sức cuốn hút lay động, đồng cảm với tâm hồn thi sĩ đến mức trở thành nguyên mẫu "Vân Cát thần nữ" trong tác phẩm của Hồng Hà nữ sĩ Đoàn Thị Điểm thế kỷ XVIII.
Đó cũng chính là một nét riêng, đặc sắc của văn học dân gian Nam Định.

Nếu bạn đi qua đường Song Hào, rồi rẽ lên cầu Thiên Trường không biết bao nhiêu lần, có khi bạn sẽ nghĩ đây chỉ là tên m...
18/09/2026

Nếu bạn đi qua đường Song Hào, rồi rẽ lên cầu Thiên Trường không biết bao nhiêu lần, có khi bạn sẽ nghĩ đây chỉ là tên một con đường, một cây cầu.

Nhưng không. Đó đều là những cái tên gắn với một vị tướng nổi tiếng quê Nam Định – người từng được Bác Hồ gọi bằng một biệt danh rất đời thường: “Vị tướng rau muống”. 🥬

Ông là Thượng tướng Song Hào, tên khai sinh Nguyễn Văn Khương, sinh năm 1917 tại Liên Minh, Vụ Bản, Nam Định. Từ năm 19 tuổi, ông đã tham gia phong trào cách mạng. Năm 1940 bị thực dân Pháp bắt, kết án 7 năm tù, lần lượt bị giam ở nhiều nhà tù nhưng vẫn không khuất phục. Đến năm 1944, ông cùng đồng đội vượt ngục, trở lại hoạt động cách mạng.

Sau đó, Song Hào lần lượt đảm nhiệm nhiều vị trí quan trọng, từ chính ủy các chiến trường đến Chính ủy Đại đoàn 308. Đặc biệt, từ năm 1961 đến 1976, ông giữ cương vị Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam – một vị trí đặc biệt quan trọng trong quân đội.

🌿 Nhưng điều khiến người ta nhớ về ông không chỉ nằm ở những chức vụ hay quân hàm.

Song Hào nổi tiếng bởi lối sống giản dị, gần gũi, luôn quan tâm đến đời sống của cán bộ, chiến sĩ, từ chuyện công việc đến những điều rất nhỏ như bữa cơm, manh áo.

Có lẽ cũng chính vì sự mộc mạc ấy mà Bác Hồ đã gọi vui ông là “Tướng rau muống” – một cách gọi rất dân dã nhưng cũng rất trìu mến. 🥬

Một vị tướng từng đi qua chiến tranh, giữ những trọng trách lớn của đất nước, nhưng cuối cùng lại được người đời nhớ bằng một cái tên giản dị đến thế.

Và đôi khi, lịch sử nằm ngay trên những con đường chúng ta vẫn đi qua mỗi ngày. 🇻🇳

Giờ thì nhiều vị còn phải trông gương ấy đó 🌿

Có một điều khiến tôi càng tìm hiểu về Nam Định càng thấy nể người xưa: quê hương này không phải lúc nào cũng có hình hà...
17/09/2026

Có một điều khiến tôi càng tìm hiểu về Nam Định càng thấy nể người xưa: quê hương này không phải lúc nào cũng có hình hài như chúng ta nhìn thấy hôm nay.

Có những cánh đồng, những làng quê, thậm chí cả những vùng đất mà chúng ta đang sống, từng là phần đất ven biển, bãi bồi, đất mặn… được con người kiên trì khai phá qua hàng trăm năm.

Nếu nhìn lịch sử Nam Định từ câu chuyện khai hoang, có thể thấy một hành trình rất dài: con người từng bước tiến ra biển, biến đất hoang thành ruộng đồng, rồi từ ruộng đồng dựng nên làng xóm.

Kể từ những năm bảy mươi của thế kỷ XV, khi Lê Thánh Tông tổ chức đắp con đê ngăn mặn dọc bờ biển Ninh Bình - Nam Định, thường gọi là đê Hồng Đức, đến nay đã hơn 5 thế kỷ.

Trong khoảng thời gian ấy, đồng bằng Nam Định đã tiến ra biển từ 10 đến 15 cây số.

Nghĩ đến con số ấy, tôi không khỏi hình dung về những thế hệ người xưa: không máy móc hiện đại, không những phương tiện mà chúng ta đang có, nhưng bằng sức người, họ từng ngày đắp đê, ngăn mặn, quai đê lấn biển, khai phá đất mới.

Và đây không phải một câu chuyện chỉ xảy ra trong một thời kỳ.

Thế kỷ XIII - XIV, nhà Trần có chính sách khai hoang lập điền trang từ năm 1266.

Cuối thế kỷ XV - đầu thế kỷ XVI, đến thời Lê Thánh Tông, việc khai hoang tiếp tục gắn với chính sách của triều đình và tác dụng của đê Hồng Đức.

Đầu thế kỷ XIX, dưới thời nhà Nguyễn, Nguyễn Công Trứ lại trở thành một nhân vật đặc biệt trong công cuộc khai hoang.

Sau thất bại của khởi nghĩa Phan Bá Vành, Nguyễn Công Trứ đã tập hợp những nghĩa binh đi khai hoang. Chỉ trong một thời gian ngắn, Tiền Hải (Thái Bình), Kim Sơn (Ninh Bình) ra đời cùng nhiều làng xã ven biển ở Giao Thuỷ và Hải Hậu.

Nhưng điều thú vị hơn là những người đến khai hoang không chỉ có người Nam Định.

Ở tổng Kiên Trung (Hải Hậu), có người từ những làng xung quanh chỉ cách nơi khai hoang 3 đến 5 cây số, nhưng cũng có những dòng họ từ rất xa tìm về: họ Vũ, Phạm, Đỗ từ Mộ Trạch (Hải Dương), họ Trần từ Nông Cống (Thanh Hoá).

Hay làng Xuân Hy, nay thuộc xã Xuân Thuỷ, huyện Xuân Trường, được Ngô Miễn (1371 - 1407), một võ tướng thân cận của Hồ Quý Ly, người làng Xuân Mai, nay thuộc xã Phúc Thắng, huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc, đứng ra tổ chức khai hoang.

Rồi ở tổng Hoàng Nha, nay là thị trấn Ngô Đồng và 9 xã khu vực xung quanh huyện Giao Thuỷ, lại có những cá nhân, dòng họ từ Hải Dương, Thanh Hóa, Thái Bình đến qua nhiều thời kỳ.

Có lẽ vì thế mà càng nhìn vào Nam Định, tôi càng thấy đây không chỉ là câu chuyện của đất.

Đó còn là câu chuyện của người.

Người từ nơi này tìm đến nơi khác. Những dòng họ mang theo ký ức, phong tục, tiếng nói, tín ngưỡng và cách sống của quê cũ, rồi cùng nhau tạo nên những làng quê mới.

Vậy nên, khi nói Nam Định là vùng đất “tiến ra biển”, có lẽ chưa đủ.

Nam Định được mở rộng bằng đất, nhưng được tạo nên bằng bước chân của rất nhiều thế hệ người đi khai hoang.

Và chính những cuộc gặp gỡ ấy cũng góp phần tạo nên sự đa dạng về nguồn gốc cư dân, để văn hóa Nam Định hôm nay mang trong mình nhiều lớp phù sa của những miền quê khác nhau.

Quê ngoại tôi ở ngay giữa trung tâm giáo xứ Bùi Chu, nên từ nhỏ, tôi đã dần quen với tiếng chuông nhà thờ, những mùa lễ ...
15/09/2026

Quê ngoại tôi ở ngay giữa trung tâm giáo xứ Bùi Chu, nên từ nhỏ, tôi đã dần quen với tiếng chuông nhà thờ, những mùa lễ và những câu chuyện xoay quanh đời sống Công giáo.

Đặc biệt, cứ đến tháng 11, tháng kính nhớ tiền nhân, tôi lại có cảm giác mình được kéo về gần hơn với quê ngoại. Và cũng từ những lần trở về ấy, tôi bắt đầu để ý đến những ngành nghề rất riêng đã âm thầm đi cùng đời sống tôn giáo nơi đây.

Có một nghề mà trước đây tôi ít khi nghĩ đến: nghề tạc tượng Công giáo.

Một pho tượng khi đặt trong nhà thờ trông có vẻ tĩnh lặng. Nhưng để tạo ra được sự tĩnh lặng ấy, phía sau là rất nhiều giờ lao động của người thợ.

Họ bắt đầu từ một khối gỗ. Gỗ dổi, gỗ vàng tâm được lựa chọn bởi nhẹ, có vân đẹp và không bị mối mọt. Từ một hình mẫu, người thợ phải tính toán chiều cao, chiều ngang, bề dày rồi mới bắt đầu cắt, đục, tạo hình.

Máy móc ngày nay có thể giúp xử lý phần thô, tiết kiệm 70% sức lao động. Nhưng máy chỉ có thể đưa khối gỗ về gần với hình hài ban đầu.

Còn cái thần của pho tượng thì vẫn nằm ở bàn tay người thợ.

Một ánh mắt phải có thần. Một bàn tay phải có dáng. Những nếp áo phải có độ mềm. Khuôn mặt phải giữ được vẻ trang nghiêm mà không trở nên vô hồn.

Có pho tượng cao tới 4m, có pho chỉ 10cm. Nhưng kích thước càng lớn, việc giữ cho tỷ lệ và thần thái cân đối lại càng khó.

Ngay cả khi tượng đã hoàn thiện phần đục chạm, công việc vẫn chưa kết thúc. Mỗi pho tượng được sơn 6 lượt, trong khoảng 1 tuần để sơn đủ độ khô. Có những đơn hàng phải mất hơn một năm mới hoàn thành.

Nghĩ lại mới thấy, một pho tượng đứng yên trong nhà thờ, nhưng để tạo nên nó, người thợ đã phải gửi vào đó rất nhiều chuyển động: chuyển động của đôi tay, của con mắt, của kinh nghiệm và cả sự kiên nhẫn.

Có lẽ vì thế mà nghề này không đơn thuần là đục một khối gỗ thành hình.

Mà là học cách nhìn thấy một hình hài trong khúc gỗ vô tri, rồi từng chút một đánh thức nó bằng đôi tay của mình.

Hướng nội đi đâu cứ đến mỗi nhà thờ đều quan sát đôi mắt của những tượng gỗ, bởi đơn giản, mỗi bức tượng phản ánh góc nhìn, trình độ và tâm hồn của người làm ra nó. Bảo sao, có thể form giống nhau tương đối nhưng cái thần thái, cái yêu thương, cái uy quyền lại được thể hiện khác nhau.

Bùi Chu, Xuân Trường 1 ngày mưa tháng 8.

Ảnh: Sưu tâm

Tôi từng thắc mắc, vì sao người già ngày xưa thích nằm gối tre, gối mây đến thế?Những buổi trưa hè, ông nội tôi thường n...
13/09/2026

Tôi từng thắc mắc, vì sao người già ngày xưa thích nằm gối tre, gối mây đến thế?

Những buổi trưa hè, ông nội tôi thường nằm trên giường, đón chút nắng xuyên qua cửa sổ, đầu kê lên chiếc gối tre. Có hôm chẳng kê gì cũng được, vậy mà ông vẫn có thể nằm cả trưa.

Sau này mới hiểu, người xưa có một quan niệm rất đơn giản: nằm phải thoáng đầu, thoáng gáy, để mồ hôi không bị giữ lại khi nằm lâu.

Có lẽ vì thế mà những chiếc gối mây ngày trước không làm theo kiểu mềm, ôm sát đầu như những chiếc gối bông bây giờ.

Gối mây có độ cứng vừa phải, bề mặt đan thoáng, có những khoảng hở để không khí lưu thông. Nằm lên không bị bí đầu, nhất là những buổi trưa hè nóng nực. Cái cảm giác hơi cứng lúc đầu, nằm lâu lại thành quen.

Và chiếc gối ấy còn có một đặc điểm rất thú vị: bên trong không phải một khối ruột gối mềm, mà ban đầu ở Tiên Hào, người thợ dùng gỗ xoan làm cốt, rồi đan sợi mây bọc xung quanh. Vì vậy chiếc gối giữ được dáng, chắc nhưng không nặng nề.

Nghề làm gối mây ở thôn Tiên Hào, xã Vĩnh Hào, huyện Vụ Bản, Nam Định được cho là bắt đầu từ đầu đời Nguyễn, khi cụ **Nguyễn Văn Tại, người làng Kẻ Tiên, học nghề ở Xã Đoài, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An rồi mang về truyền lại.

Ngày nay, ngoài mây tự nhiên, người Tiên Hào còn dùng sợi ni-lông giả mây vì bền, nhiều màu và dễ tạo hoa văn hơn. Gối cũng được sản xuất theo dây chuyền hiện đại để phục vụ cả thị trường trong nước và xuất khẩu.

Nhưng mỗi khi nhìn một chiếc gối mây, tôi vẫn nhớ đến ông nội.

Hóa ra có những thứ người xưa dùng không phải vì chúng đẹp hay tiện nghi nhất, mà bởi "họ hiểu cơ thể mình cần gì".

Một chiếc gối thoáng đầu, một giấc ngủ trưa, và một ký ức đến giờ vẫn còn nguyên.

Đừng tưởng Nam Định chúng tôi không biết tự làm nón lá.Bởi ở Đào Khê, xã Nghĩa Châu, huyện Nghĩa Hưng, người ta đã làm n...
11/09/2026

Đừng tưởng Nam Định chúng tôi không biết tự làm nón lá.

Bởi ở Đào Khê, xã Nghĩa Châu, huyện Nghĩa Hưng, người ta đã làm nón từ hàng trăm năm nay.

Nhưng điều thú vị là nghề nón ở đây không đơn giản chỉ là “cha truyền con nối”.

Theo tư liệu của người dân địa phương, nghề nón từng được học hỏi từ làng Chuông – nơi nổi tiếng với nghề làm nón ở Hà Nội. Sau đó, người Đào Khê không bê nguyên nghề về làm, mà dần cải tiến thành kiểu nón của riêng mình. Bởi vậy so với nón nhiều vùng, nón nơi đây nhẹ hơn, linh hoạt hơn khi đi đồng áng.

Ngày trước, nón Đào Khê làm tới 20 vành. Sau đó cải tiến còn 16 vành, rồi từ khoảng năm 1975, tiếp tục thay đổi còn 15 vành.

Đến nay, bài báo ghi nhận mỗi chiếc nón vẫn được làm thủ công, từ chọn lá cọ Kỳ Anh (Hà Tĩnh), phơi lá, vuốt lá cho thẳng, đến tự tay vót từng thanh cật tre để làm vành.

Mà làm vành mới là một trong những công đoạn khó nhất: tre không được quá non cũng chẳng được quá già, phải vót thật tròn, đều rồi uốn cho cân.

Một người thợ trung bình chỉ làm được 1 - 2 chiếc/ngày, mỗi chiếc bán khoảng 50.000 - 100.000 đồng.

Vậy nên chiếc nón nhìn thì nhẹ tênh, nhưng để làm ra nó lại cần rất nhiều thời gian, sự khéo léo và kinh nghiệm.

Và có lẽ điều đáng nói nhất: người Đào Khê không chỉ giữ lại một nghề cũ, họ đã biến nghề học được thành một phần của quê hương mình.

Đến nay, Đào Khê Thượng và Đào Khê Hạ vẫn nối tiếp nghề nón, để những chiếc nón lá từ một làng quê Nam Định tiếp tục đi ra nhiều nơi.

📸 1 thứ đồ chơi Trung Thu nữa sắp bị thất truyền…Phỗng đất là món đồ chơi truyền thống của trẻ em Việt Nam thời xưa, cũn...
10/09/2026

📸 1 thứ đồ chơi Trung Thu nữa sắp bị thất truyền…

Phỗng đất là món đồ chơi truyền thống của trẻ em Việt Nam thời xưa, cũng là món đồ được các đền, chùa sử dụng trong cúng bái.
🐇 Ngày xưa, ông nội từng mua cho 1 mình ông Phỗng đất nhỏ. Rồi thấy hay hay nhưng ông bảo phải nâng niu chứ đừng quăng quật.

Rồi lúc xây nhà, thất lạc đi đâu rồi

Trong mâm cỗ Trung thu ngày xưa, ngoài mâm ngũ quả, bánh kẹo… nhất định phải có một bộ phỗng đất, đèn ông sao và một ông tiến sĩ giấy.

Bộ phỗng đất truyền thống gồm 5 hình tượng: đứng giữa là Đức Phật, mang ý nghĩa tâm linh, mong muốn con cháu luôn phải sống có lương tâm, đạo đức; hình tượng thứ 2, 3 là ông già và em bé, tượng trưng cho sự tiếp nối giữa các thế hệ; thứ 4 là con chim, thể hiện cho khát vọng tự do, hòa bình; cuối cùng là con rùa, tượng trưng cho sức mạnh và sự trường tồn.

🌿 Để làm một bộ phỗng đất cũng khá kỳ công. Nguyên liệu làm phỗng đất là đất sét và giấy bản. Đất sét được đào ở độ sâu từ 2-2,5m, đem phơi khô, đập, giã thành bột mịn rồi sàng, đến khi sờ vào có độ mịn mát tay là được. Giấy bản ngâm trong nước 7 ngày, sau khi đã mủn hoàn toàn thì trộn đất và giấy với nhau, vừa trộn tay, vừa dùng chày đập cho đến khi hỗn hợp này quyện lại rồi mang ra nặn, nặn xong phơi ra ngoài ánh nắng mặt trời cho khô.

Ôi nghe nó kỳ công, nhưng nhờ vậy phồng có rơi cũng chẳng vỡ. Bởi đã là 1 thể thống nhất. Như có cái linh, có lớp áo bảo vệ vững chắc.

Trẻ con giờ sẽ quên, vì học hành, ipad, thức ăn nhanh, .. nhưng những người chớm trung niên như mình sẽ nhớ mãi những món đồ chơi dân tộc như vậy.

Bạn có biết?? Kỳ thi Nho học cuối cùng ở nước ta 100 năm trước.Cách đây 100 năm, năm 1919, thời vua Khải Định, diễn ra k...
05/09/2026

Bạn có biết?? Kỳ thi Nho học cuối cùng ở nước ta 100 năm trước.

Cách đây 100 năm, năm 1919, thời vua Khải Định, diễn ra khoa thi Hội, thi Đình cuối cùng của chế độ khoa cử Nho học, rồi sau đó chuyển hoàn toàn sang Tây học.

“Mùa hạ, tháng 4 năm 1918, mở khoa chính kỳ thi Hương. Cho trường Bình Định thi chung tại Thừa Thiên, trường Thanh Hóa thi chung tại Nghệ An”.

Sau khoa thi Hương này, ngày 28/12/1918, vua Khải Định ra chỉ dụ bãi bỏ khoa cử ở Việt Nam. Số cử nhân đỗ ở kỳ thi Hương sẽ được thi Hội, thi Đình vào năm 1919. Với khoa thi này, nền khoa cử nho học Việt Nam kéo dài 844 năm (mở đầu từ khoa thi Minh kinh bác học diễn ra năm 1075 dưới triều Lý Nhân Tông mà Lê Văn Thịnh là Thủ khoa) hoàn toàn kết thúc.
Ngày 1/4/1919, khoa thi Hội cuối cùng, tức khoa Kỷ Mùi được tổ chức, ngày 28/4 công bố danh sách những người trúng cách.

Bởi thế,
Trước cảnh nền khoa cử Nho học sắp chấm dứt, thi sĩ Tú Xương (Trần Tế Xương) đã viết những vần thơ cảm thán:
Nghe nói khoa này sắp đổi thi
Các thầy đồ cổ đỗ mau đi!
Dẫu không bia đá còn bia miệng
Vứt bút lông đi, giắt bút chì!

Address

Hanoi
Yen Nguu

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Hướng nội đi đâu posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Shortcuts

Share