Like Tour Việt Nam

Like Tour Việt Nam Like Tour Việt Nam là trang thông tin chia sẻ văn hoá- ẩm thực, danh lam thắng cảnh

Mùa vàng trên đồng lúa Sapa
07/02/2021

Mùa vàng trên đồng lúa Sapa

Bạn Nghĩ Sao Về Việc Mua - Bán Hình Ảnh Do Chính Mình Sáng Tạo?- Ngày nay với việc phát triển của công nghệ thì không kh...
07/01/2021

Bạn Nghĩ Sao Về Việc Mua - Bán Hình Ảnh Do Chính Mình Sáng Tạo?
- Ngày nay với việc phát triển của công nghệ thì không khó khăn gì để bạn có thể tìm kiếm được những bức ảnh ưng ý trên mạng, nhưng những hình ảnh đó thì khó để sử dụng cho mục đích thiết kế của bạn, có thể vì những lý do riêng như kém chất lượng, bản quyền...-> chính vì vậy để có những bức ảnh đủ tiêu chuẩn thì người dùng chỉ cần bỏ ra ít tiền mà ngồi tại nhà cũng có thể lựa chọn được những bức ảnh ưng ý cho mục đích sử dụng của mình mà không cần phải bỏ công sức, tiền bạc để đến tận nơi chụp rồi mang về sử dụng.
Chính vì vậy bạn có thể tìm đến các trang chuyên bán ảnh như Istock Photo, shuttertock, Eyeem...vv
=> còn nếu bạn là người yêu thích chụp hình và có nhiều những tấm hình đẹp tại sao không bán nó trên các ứng dụng đơn giản này.
Chỉ với vài bước đơn giản để đăng ký là bạn có thể bán ảnh của mình rồi -> chúc các bạn thành công.

Shutterstock is a global marketplace for artists and creators to sell royalty-free images, footage, vectors and illustrations. We want to see the world through your eyes.

03/26/2021

LỊCH SỬ TƯỢNG CHÚA KITO VUA - VŨNG TÀU.

Nằm chót vót trên đỉnh núi Nhỏ, tượng đài Chúa Kitô Vua Tao Phùng như một ngọn tháp canh thu vào tầm mắt du khách toàn bộ cảnh quan của thành phố Vũng Tàu.

Năm 1972, cha Phaolô Nguyễn Minh Tri cùng với bà con giáo dân Vũng Tàu khởi công xây dựng một tượng đài Chúa Kitô, theo dự kiến cao khoảng 10m, đặt trên bệ cao 5m ngay tại mũi Nghinh Phong dưới chân núi Nhỏ. Công việc xây dựng đang tiến hành thì bị gián đoạn vào năm 1973, đại tá thị trưởng Vũng Tàu ra lệnh ngưng mọi công tác xây dựng do khiếu nại của Giáo Hội Phật Giáo cho rằng địa điểm này được dành cho GHPG. Để giữ hòa khí giữa hai tôn giáo, các cuộc họp được tổ chức và kết quả bản thỏa hiệp được ký kết và ngày 16 -02- 1974 Giáo Hội Công Giáo sẽ xây dựng các công trình tôn giáo trên ngọn núi Tao Phùng với diện tích là 10 mẫu và để lại mũi Nghinh Phong ( Ô Quắn ) cho Giáo Hội Phật Giáo toàn quyền sử dụng.

Năm 1974, tượng đài Chúa Kitô được xây dựng lại trên đỉnh núi Tao Phùng thuộc dãy núi Nhỏ với diện tích rộng lớn 10 hécta. Do thay đổi vị trí nên tượng đài Chúa Kitô Vua Tao Phùng được thiết kế lại để phù hợp với độ cao mới và sự khắc nghiệt của khí hậu gió mùa nhiệt đới. Việc thay đổi này đem lại sự khó khăn về tài chính cũng như những điều kiện khác trong việc xây dựng. Tuy nhiên, công việc vẫn được tiến hành dưới sự chỉ đạo của cha Phaolô Nguyễn Minh Tri và sự giúp đỡ về tài chính của ông bà Lê Quang Tuyến. Công việc điều hành thi công do họa sĩ kiêm điêu khắc gia Văn Nhân và kỹ sư Nguyễn Quảng Đức cùng với 50 công nhân lành nghề thực hiện.Công việc đươc bắt đầu , dự định sẽ đào móng sâu 6m , nhưng mới được 3m thì đụng nền xi măng cứng ngắt .

Anh em quyết tâm đập thủng khối xi măng cốt thép chặn ngay đường tiến xuống, chưa biết dày mỏng bao nhiêu của một khoảng trống phía dưới.Vạch một vòng tròn to anh em quyết tâm chọc thủng để thăm dò phía sâu hơn, chọc thủng được chướng ngại vật, một người ngồi gọn trong cái thúng để anh em buộc dây thả xuống khoảng trống tối om phía dưới.Thật bất ngờ và lạ lùng: Đây là một hệ thống địa đạo được che chắn bằng xi măng cốt thép, chổ bị chọc thủng đây chính là lối đi ở giữa của hai dãy phòng, mỗi bên gồm 7 phòng, mỗi phòng dài 7 thước rộng 4 thước . Không còn nghi ngờ gì nữa, đây là hệ thống phòng thủ do người Pháp hoặc người Nhật xây dựng trước đây. Rải rác trên sườn núi, người ta thấy các cửa hầm dẫn vào khu chỉ huy trung tâm nằm dưới đỉnh Tao Phùng, tất cả bị cỏ cây che phủ .

Như vậy móng của tượng đài phải xuống sâu hơn, qua khoảng trống của căn hầm và đụng đất, hoàn toàn bất ngờ đối với những người thi công. Ngày nay khi du khách đến tham quan tượng đài đều thấy hai khẩu thần công được đặt trên núi từ thưở nào, bên cạnh là tấm bảng của bảo tàng Bà Rịa-Vũng tàu với những hàng chữ: "Di tích lịch sử – trận địa pháo núi nhỏ, xây dựng cuối thế kỷ 19, hoàn thành năm 1905, công trình quân sự trong hệ thống phòng thủ chiến lược của Pháp tại Vũng Tàu “. Giải quyết xong phần móng của tượng đài, mọi người bắt tay vào việc với khí thế hào hứng. Vào những ngày cuối của cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ hai, tháng 4 -1975, công việc như dồn dập hơn. Tượng đài phải được hoàn tất để Đức Giê Su chừng kiến sự chuyển mình sang một trng sử mới của con dân đất Việt tiếng đạn pháo mỗi ngày một gần mọi người hối hả và ở đây trên đỉnh Tao Phùng công việc xây dựng tượng đài đang ở vào giai đoạn chót.

Tượng được mài từ cao xuống thấp, cẩn thận và tỉ mỉ, mài đến đâu gỡ giàn giáo đến đó. Một vị linh mục cao tuổi, có lẽ là người duy nhất đã trèo lên ôm hôn mặt chúa trước lúc giàn giáo được tháo gỡ. Ông xúc động cầu nguyện cho quê hương vào giờ phút lịch sử, ông dâng đồng bào vào vòng tay mở rộng của Chúa. Ông cũng như đa số đồng bào của ông, chẳng mấy ai hiểu được sự chuyển mình của đất nước.

Tháng 4- 1975, lịch sử đất nước sang trang, Quê Hương hòa bình thống nhất , tưởng rằng công việc sẽ được thuận lợi hơn sau khi đã hoàn tất tượng Chúa. Còn bao vịec phải làm, các bức phù điêu ở phần chân đế tượng, bậc thang dẫn từ chân núi lên đỉnh Tao Phùng, hoa phải được trồng thêm, cỏ hoang cần phải cắt xén…tất cả đều phải tạm ngừng, những ngổn ngang sau một cuộc chiến dài cần có thời gian để thu dọn, sắp xếp, từ lòng người tới cuộc sống .Thế là bức tượng Chúa GiêSu Vua tuy đã được hoàn tất nhưng cô quạnh trên đỉnh Tao Phùng, vào thời gian này, tháng 5-1980 người ta phát hiện thấy hệ thống thu lôi bằng dây đồng của tượng bị mất cắp.

Không thể để bức tượng chơ vơ giữa mưa giông sấm chớp mù trời vào mùa mưa, cha Phêrô Trần Văn Huyên chánh xứ Vũng Tàu đã trình bày với các cha trong hạt và xin cha quản hạt làm đơn gởi lên chính quyền địa phương xin tu bổ và hoàn tất tượng đài . Đơn xin không được hồi âm và sau nhiều lần vận động đến năm 1992 chính quyền cho phép sửa chữa, tu bổ lại tượng Chúa. Lúc này Đất nước đang vào thời kỳ đổi mới, Thành phố Vũng Tàu đang trở thành một trung tâm du lịch lớn, không lẽ để tượng đài lớn nhất thế giới này trong tình trạng hoang phế trước mắt du khách mỗi ngày một đông đổ về Vũng Tàu. Lại một lần nữa dưới sự chỉ đạo của ban xây dựng giáo phận và các cha cúng toàn thể thợ, những cánh tay thành tâm công quả bất kể mưa nắng, một khối lượng công việc khổng lồ phải tiếp tục hoàn tất sau gần 20 năm bỏ hoang phế tu bổ tượng chúa GiêSu, thực hiện bốn bức phù điêu đặt ở bốn mặt chân tượng chúa, tượng đài Đức Mẹ ôm xác Chúa ( Pieta ) ngay trước tượng đài Chúa Giêsu, hoàn tất lối lên từ chân núi Tao Phùng, trồng hoa mua lại lữ quán Nghinh Phong làm nơi dừng chân cho du khách, tạo hệ thống nước mưa bảo đảm đủ tưới cây trong mùa khô, chỉnh trang mặt tiền lối lên từ đường Hạ Long.

Và còn biết bao công đoạn. Riêng về 4 bức phù điêu ở phần chân đế tượng chúa, hai bức đã được hoàn tất trước ngày 30-4-1975. vào lúc công trình được tái thi công, điêu khắc gia Văn Nhân đang sinh sống tại nước ngoài, nguyện vọng của ông là được hoàn tất tượng chúa GiêSu trên núi Tao Phùng trước khi nhắm mắt. Ông vui sướng nhận lời trở về quê nhà tiếp tục công việc, nhưng lực bất tòng tâm, lên xuống gần 800 bậc thang bằng đá là một nỗi nhọc nhằn quá sức chịu đựng đối với cụ già vào tuổi cổ lai hy. Nhiều khi ông phải ngồi dưới chân núi, chỉ đạo các học trò của ông thực hiện các chi tiết trên cao. Bốn bức phù điêu diễn tả cảnh ba nhà đạo sĩ từ phương đông đến bái lạy Chúa Hài Đồng, cảnh bữa tiệc chia tay giữa các tông đồ và Chúa GiêSu trước ngày chịu nạn, cảnh Chúa đứng trước tòa án Philato và cảnh Chúa trao chìa khóa cho Phêrô làm đầu Hội Thánh. Bốn bức phù điêu che kín bốn mặt của đế tượng Chúa là phòng trưng bày phiên bản các bức danh họa liên quan đến kinh thánh được lưu trữ tại các bảo tàng viện nổi tiếng như Louvre, Peterbourg, Vatican.

Chỉ hai năm sau ngày tái khởi công, ngày 01-12-1994, toàn bộ công trình thuộc khu vực tượng đài Chúa Kitô được hoàn thành. Tượng đài Chúa Kitô đặt trên ngọn núi Nhỏ đối diện mũi Nghinh Phong, ở độ cao 176m so với mặt nước biển. Tượng đài đứng giữa hướng đông nam và quay ra biển, bên phải là núi Ô Quắn, bên trái là Hòn Bà, phía sau là thành phố Vũng Tàu. Từ dưới bãi biển nhìn lên, tượng đài Chúa Kitô giang đôi tay sừng sững án ngữ trên đỉnh núi cao, bao quanh là những tán cây xanh mát tạo thành một điểm nhấn đầy ấn tượng. Từ trên cánh tay tượng đài nhìn xuống, du khách có thể nhìn thấy thành phố Vũng Tàu với nhà cửa san sát, công viên khu công nghiệp Đông Xuyên, hồ Thị Vải và dáng vẻ mập mờ của núi Hòn Bà được bao quanh bởi làn nước trong xanh của biển trời Vũng Tàu.

Với chiều cao 32m, hai tay giang dài 18,40m, trong lòng tượng có 133 bậc thang và có thể chứa khoảng 100 du khách tham quan, mỗi bàn tay dài 2,20m, ngón giữa dài 1,10m, tượng đài Chúa Kitô Vua Tao Phùng được xem là một trong những tượng đài về Chúa Kitô lớn nhất thế giới hiện nay. Tượng mẫu Chúa Kitô và bốn bức phù điêu dưới chân tượng do họa sĩ kiêm điêu khắc gia Văn Nhân thực hiện, kỹ sư Nguyễn Quảng Đức đảm trách phần họa đồ sắt và bêtông, gần chân tượng Chúa là tượng Đức mẹ của nhà điêu khắc Xuân Quang. Phần lớn nguyên vật liệu sử dụng cho công trình này đều là những sản phẩm trong nước, ngoại trừ xi măng trắng được nhập khẩu từ nước ngoài. Đá và cát được chở từ Đồng Nai, riêng đá mài ở mặt, tay, chân, tà áo, cầu thang lấy từ đá cẩm thạch ở núi Non Nước ngoài Đà Nẵng về xay nhỏ. Đá rửa bên ngoài pho tượng là sỏi nhỏ 3 ly sàng lọc kỹ càng lấy từ sông Đồng Nai.

Đường đi lên tượng đài dài trên 500m, rộng từ 5-10m với gần 800 bậc thang tính từ đường Hạ Long lên đến chân tượng. Đứng từ mũi Nghinh Phong nhìn lên, sứ trắng bao quanh con đường ngoằn ngoèo uốn lượn, bất chợt du khách có cảm giác con đường này giống một dải lụa trắng thướt tha., tượng đài Chúa Kitô (người dân Vũng Tàu thường gọi bằng một tên quen thuộc Tượng Chúa giang tay) trở thành một trong những điểm tham quan không thể thiếu của du khách trong và ngoài nước khi đặt chân đến Vũng Tàu.

Ngày nay núi Chúa là một địa điểm tham quan mới trong hàng loạt các điểm du lịch văn hóa của Vũng Tàu thơ mộng, từ chân núi đi lên đều có trạm dừng chân cho du khách, cây cỏ hoa lá xanh tươi, gió lồng lộng, những bức tượng điêu khắc thật đẹp được đặt hai bên đường đi lên đỉnh núi, lên cao một chút bạn sẽ nhìn thấy những con thuyền nhấp nhô ngoài biển ,sóng vỗ rì rào cho ta một cảm giác thật thú vị .Hãy đến và lên đỉnh núi Chúa, nơi đây bạn hãy nguyện xin những gì mình cần cầu xin cho dù bạn là người công giáo hay không phải người công giáo, hãy đặt niềm tin của mình vào đấng tối cao bạn sẽ được toại nguyện.

Chia sẻ lại “Góc Nhìn An Nam”

08/03/2020

VÕ TÁNH - TỰ THIÊU CỨU BA QUÂN.

Võ Tánh hay Võ Tính (1768 – 1801) người gốc Biên Hòa, sau dời về huyện Bình Dương thuộc Phiên Trấn (nay là TP HCM) là một danh tướng của chúa Nguyễn Ánh, đương thời ông cùng Đỗ Thành Nhơn và Châu Văn Tiếp được xưng tụng là Gia Định tam hùng. Cũng như Trần Quang Diệu là người trung thành với nhà Tây Sơn từ khi khởi nghĩa đến lúc thất thế, thì Võ Tánh đã cống hiến cả cuộc đời ông và hy sinh tính mạng của ông cho sự phục hưng của cơ nghiệp của chúa Nguyễn Ánh. Và cả hai ông Quang Diệu và Võ Tánh dù đối địch vẫn dành cho nhau sự kính trọng hết mực.

Năm 1799, Võ Tánh theo chúa Nguyễn Ánh tiến đánh thành Quy Nhơn. Tướng Tây Sơn là Lê Văn Thanh phải mở cửa thành xin hàng. Chiếm được thành, chúa Nguyễn đổi tên Quy Nhơn thành Bình Định. Sau đó, giao cho Võ Tánh và Lễ bộ tham tri Ngô Tùng Châu trấn giữ rồi cho rút đại quân về Gia Định.

Năm 1800, Trần Quang Diệu sau khi dẹp hết bọn nịnh thần trong triều liền cùng Vũ Văn Dũng tiến quân lấy lại thành Bình Định. Quân chia làm thuỷ bộ, Trần Quang Diệu chỉ huy bộ 5 vạn, Vũ Văn Dũng chỉ huy thuỷ quân 2,4 vạn. Trần Quang Diệu cho quân đánh thành Bình Định, Võ Tánh đưa quân chống lại nhưng vì yếu hơn nên phải cho quân vào trong thành cố thủ. Thành Bình Định dễ thủ, khó công nên Trần Quang Diệu không cho quân đánh vào trong thành mà vây bên ngoài chờ quân Nguyễn hết lương tất đầu hàng. Trần Quang Diệu sai đắp lũy chung quanh thành, chu vi lên tới 4000 trượng và chia quân vây bốn mặt, Võ Văn Dũng thì đôn đốc thủy quân phòng giữ cửa Thị Nại.

Nguyễn Ánh cùng Lê Văn Duyệt và Võ Di Nguy đem đại binh ra tìm cách giải vây cho Bình Định, đại thắng thủy quân Tây Sơn tại Thị Nại. Lúc này Nguyễn Văn Thành nhắc Nguyễn Phúc Ánh về kế” thí xe bắt tướng” đã bàn từ trước là tạm thời bỏ qua thành Bình Định mà tiến thẳng ra Phú Xuân. Nhưng Nguyễn Ánh không muốn bỏ rơi Võ Tánh nên cho quân lên giải vây thành Bình Định.

Quân Tây Sơn từ trên cao đặt các trọng pháo bắn xuống ngăn quân Nguyễn, dù Nguyễn Phúc Ánh đã cố vài lần cho quân tiến lên nhưng lần nào cũng bị đẩy lùi. Lúc này, thành Bình Định cũng bị vây hơn 1 năm, Trần Quang Diệu cũng muốn kết thúc nhanh nên vây thành rất chặt, cắt mọi đường tiếp tế, tình thế hết sức nguy ngập, binh sĩ hết lương không còn sức lực để trụ thêm nữa.

Nguyễn Ánh đương đêm cho người vượt thành đem mật thư vào thành lệnh cho Võ Tánh phải bỏ thành trốn ra, nhưng Võ Tánh lại biên thư khác ra cho Nguyễn Phúc Ánh khuyên ông phải chớp thời cơ kéo quân ra đánh Phú Xuân, để ông cùng Ngô Tùng Châu cố giữ thành cầm chân quân Tây Sơn. Võ Tánh nỗ lực cố thủ trong thành, trong nhiều giờ phút hiểm nghèo vẫn nghĩ đến đại sự chứ không lo cho bản thân mình, khuyên chủ tướng không cần cứu mình mà chiếm lấy Phú Xuân, quả là hiếm có.

Nguyễn Ánh nhận được thư liền cùng các tướng họp trên soái hạm, nhiều người bàn nên cho quân đánh Phú Xuân trước, cứu thành Bình Định sau. Tuy nhiên Nguyễn Ánh không đồng ý:” Võ Tánh theo ta từ ngày đầu lập nghiệp, trải qua biết bao nhiêu khó khăn gian khổ, nay nghiệp lớn chưa thành, một ngày vinh hoa chưa hưởng. Ta đi đồng nghĩa với việc đưa Võ Tánh vào chổ chết, sau này làm sao có thể ngẩng mặt nhìn thiên hạ mà trị vì?”

Tả quân Lê Văn Duyệt thay mặt các chủ tướng đứng ra can ngăn rằng:” Là tướng võ, mong muốn của Võ Tánh là được chết theo thành, nhờ đó xoay chuyển đại cuộc. Nay nếu thánh thượng vì cứu Võ Tánh mà đi sâu vào giao chiến với đại binh Tây Sơn, cứu được Võ Tánh rồi, không biết đến bao giờ chiến tranh mới kết thúc. Một đằng được chết cho non sông vươn lên, một đằng vì sự sống của mình mà kéo dài chiến tranh. Liệu rằng điều đó có công bằng cho Võ Tánh? Xin thánh thượng lắng nghe lời Võ Tánh: người là thiên tử, nhất định phải gạt bỏ tình riêng mà vì thiên hạ.” Cuối cùng Nguyễn Ánh giao cho Trần Quang Thành ở lại kiềm chân Trần Quang Diệu với hy vọng mong manh sau khi chiếm được Phú Xuân thì sẽ quay lại cứu Võ Tánh.

Tháng 6/1801 thuỷ binh Nguyễn rời Thị Nại tiến đánh Phú Xuân. Trước khi đi Nguyễn Ánh hướng đến thành Bình Định, quỳ gối chấp tay lạy, chứng kiến cảnh này ai cũng thấy ngậm ngùi.

Thành Bình Định lúc này cũng bị kiệt quệ, trong thành hết sạch lương ăn, Võ Tánh cho quân sĩ làm thịt voi ngựa mà ăn. Có người khuyên mở đường máu vượt vòng vây mà ra nhưng ông cương quyết ở lại: “Không thể được. Ta phụng mạng giữ thành này, nên thề với thành cùng sống chết. Nếu bỏ thành mà hèn nhát trốn lấy một mình, thì sau này còn mặt mũi nào trông thấy chúa thượng?”.

Lúc này quân sĩ lớp thì chết lớp thì nằm ngổn ngang, Võ Tánh ứa nước mắt nói rằng:” Các ngươi chớ lo, ta đã có kế, ngày mai các ngươi sẽ có gạo mà ăn. Võ Tánh viết thư rồi sai người trao cho Trần Quang Diệu, nói rằng: “phận sự ta làm chủ tướng thì đành liều chết ở dưới cờ. Chỉ một mong muốn sau cùng, anh em binh sĩ không có tội tình gì, xin ngài hãy vì đức lớn mà đừng làm hại, cũng như ngày trước khi chiếm được thành Quy Nhơn, quân Nguyễn đã không giết hại những binh sĩ Tây Sơn giữ thành”. Xong, ông sai thuộc hạ lấy rơm củi chất dưới lầu Bát Giác, đổ thuốc súng vào châm ngòi tự hỏa thiêu. Ngô Tùng Châu cũng dùng thuốc độc tự vẫn.

Đọc xong thư, Trần Quang Diệu sai người phát lương thực cho hàng binh và mai táng Võ Tánh theo nghi thức dành cho bậc công thần. Lễ mai táng có cả quân sĩ hai bên rất nghiêm trang, Trần Quang Diệu bước đến bên linh cữu Võ Tánh rồi cúi đầu từ biệt vị tướng trung dũng phe đối địch.

Sau lễ mai táng, Trần Quang Diệu cho tập hợp hơn 1 vạn binh ở bãi cát bên cửa Thị Nại và tha mạng hết cho họ, không hại một ai. Các binh lính này khi được tha mạng thì đều về quê, không ai gia nhập lại quân Nguyễn chống Tây Sơn. Thương cảm cho Võ tướng quân, dân Bình Định có câu ca: “Ngó lên ngọn tháp Cánh Tiên/ Cảm thương quan Hậu thủ thành ba năm”

Năm 1802, nguyễn Ánh lên ngôi lấy hiệu Gia Long. Ông phong cho Võ Tánh tước Quốc công, bài vị cũng được đặc cách thờ tại Thế Miếu nơi chỉ dành riêng cho hoàng tộc.

-Đại Nam thực lục-
-Sách Việt Nam Sử Lược-
-Tây Sơn bi hùng truyện-
-Hoàng Việt Long Hưng Chí-

06/27/2020

Đền Chúa Bà Đá Trắng - Quảng Ninh

⭐Truyền thuyết kể rằng, Ngọc Hoàng Thượng đế phái Bạch Ngọc Thiên Cung đại tiên trên trời xuống trấn giữ cai quản núi Mằn Sơn tạo phúc cho nhân gian.

⭐Xưa kia, đây là vùng đất sơn thuỷ hữu tình, hướng về sông cửa Lục ( Vịnh Hạ Long). Người dân trong vùng mỗi khi gặp hán hán, dịch bệnh, làm lễ cầu đảo vọng bái lên đỉnh núi đều được linh nghiệm, vì vậy các dân tộc tại khu vực núi Mắn như: Kinh, Hoa, Thanh Phán, Sán Dìu lập miếu thờ tại chân núi, cung nghinh thánh giá Đại tiên ngự tại đây.

⭐Cung nghinh
Thiên tiên Thánh Chúa
Mằn sơn thần nữ
⭐Ngự
Bạch thạch linh từ
Thượng đẳng phúc thần

⭐Bà là Chúa bà, thánh mẫu Mằn Sơn, Bạch Ngọc thiên cung trên trời là phúc thần, là vị tiên luôn bảo hộ nhân dân trong vùng.

📌 Núi Mằn thuộc xã Thống Nhất, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh, đây là ngọn núi đá lèn cao vách dựng, nằm giữa hai nhánh suối Đá Trắng (Bạch Thạch Khe) và suối Lưỡng Kỳ (khe Bân) đổ ra sông Đá Trắng. Nằm trên độ cao gần 300m so với mực nước biển, hình dáng của ngọn núi khiến ta liên tưởng đến con voi ở trong thế quỳ phục, vòi chúc xuống khe Bân.

📌 Núi Mằn không chỉ được biết đến trong những năm gần đây, mà từ thời phong kiến xưa đã nổi tiếng được xếp vào danh lam thắng tích thời Đồng Khánh cùng với Núi Truyền Đăng (Núi Bài Thơ ngày nay), được ghi chép trong Đồng Khánh Địa Dư Chí (Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn năm 1886-1888), trang 406 ghi rõ: "Núi Bân thuộc xã Xích Thổ. Xung quanh toàn là núi đất, chỉ riêng núi này là núi đá lèn cao vách dựng. Phía Đông núi có Khe Bân, phía Tây có khe Đá Trắng (Bạch Thạch khe) đáng gọi là danh thắng”.

📌 Không chỉ là danh thắng đẹp, có cảnh sắc hữu tình với câu sấm trạng nổi tiếng lưu truyền đến tận ngày nay “Mằn sơn án hải, vạn đại Đế Vương”, ngọn núi nổi tiếng từ thời Đồng Khánh còn chứa đựng những giá trị về lịch sử, văn hoá. Theo lời người dân địa phương kể lại, từ ngàn xưa, nhân dân trong vùng thường coi núi Mằn và núi Bài Thơ là hai cặp núi song sinh với nhiều truyền thuyết hấp dẫn, ly kỳ. Trong đó, núi Mằn gắn liền với truyền thuyết “Ông khổng lồ gánh đá vá trời”. Tương truyền rằng, mỗi bước chân ông đi qua đều gắn liền với một số địa danh lưu truyền đến ngày nay. Đặc biệt, khi ông trở vai, đôi gánh gãy làm đôi, một bên gánh rơi xuống TP Hạ Long là núi Bài Thơ, một bên rơi xuống địa phận Xích Thổ (huyện Hoành Bồ) chính là núi Mằn ngày nay.

📌 Để thờ thần núi Mằn (Cao Sơn, Quý Minh Đại Vương) và Long Hải sơn thần (vị thần cả cai quản vùng sông nước), nhân dân trong vùng đã xây dựng đền Bạch Trạch ngay dưới chân núi. Trải qua nhiều biến cố lịch sử, đến nay đền không còn thờ Cao Sơn, Quý Minh Đại Vương và Long Hải sơn thần, mà xây dựng thêm am thờ Phật và thờ Mẫu Thượng Ngàn, Tam toà Thánh Mẫu, chính cung chúa bà Đá Trắng.

06/23/2020

NGƯỜI THÁI Ở VIỆT NAM
1: Các Ngành Thái và Lịch Sử Cư Trú
Người Thái vốn dĩ là cư dân lúa nước, cư trú tập trung ở vùng sípxoongpànna (vùng giáp ranh Trung Quốc,Miến Điện và Thái Lan). Vào thế kỷ thứ VIII, do thiếu đất canh tác, nhóm Thái trắng tiến hành đợt thiên di xuống phía Nam, trong đó có một bộ phận vào Việt Nam. Đến thế kỷ thứ X nhóm thái đen di cư vào vùng Tây Bắc Việt Nam, tạo nên sự biến đổi địa bàn cư trú của các tộc người thuộc nhơm Môn Khơ Me, vốn là chủ nhân của các thung lũng, chân núi. Trước sức mạnh quân sự của người Thái họ phải chuyển lên sống ở rẻo giữa làm nương và lệ thuộc vào người Thái về mặt chính trị- xã hội.
👫Người Thái có hai nhóm:
- Thái Đen (Tày Đăm): đến VN thế kỷ X-XIII, cư trú ở các tỉnh Sơn La (Trừ phù yên, Bắc Yên và Quỳnh Nhai), Điện Biên, Lai Châu và phía Tây vùng Thanh Nghệ.
👫Nhóm Thái Trắng (Tày Khao): di cư vào VN từ thế kỷ X-XIII, cư trú ở các huyện Phù Yên, Bắc Yên, Quỳnh Nhai tỉnh Sơn La, Mường Tè tỉnh Lai Châu, Mường Lay của Điện Biên, Mai Châu, Sapa, Bắc Hà
🌎 Phân Biệt Hai Nhóm Bằng Dấu Hiệu Sau:
⭐️tín ngưỡng thờ cúng:
- Thái Đen: thờ cha chim (cạn)- Mẹ Rồng (nước)
- Thái Trắng: thờ Cha Rồng(nước)- Mẹ Chim (cạn)
⭐️nhà truyền thống:
- Thái Đen: cột nhà làm bằng gỗ tròn, mái đầu hồi khum như mai rùa, đầu hồi nhà có khau cút, bao quanh nhà không có lan can
- Thái Trắng: cột nhà làm bằng gỗ vuông, mái nhà phẳng tạo thành nhà hai mái hoặc bốn mái. Đầu hồi không có khau cút. Có lan can bao quanh nhà từ cầu thang ra phía trước tạo nên sự thông thoáng.
⭐️Trang phục nữ
- Thái Đen: áo màu xanh, cổ tròn
Phụ nữa thường đội khăn piêu, phụ nữa khi lấy chồng búi tóc (tằng cẩu)
- Thái Trắng: áo màu trắng, hồng, cổ trái tim
Phụ nữ ít khi đội khăn piêu, không có tục tằng cẩu.
⭐️Mối quan hệ trong gia đình
- Thái Đen: không phân biệt trưởng thứ, nam giới khi lấy vợ phải ở quản (ở rể tạm 6-8 tháng trước khi ở rể chính thức)
- Thái Trắng: phân biệt trưởng thứ, không có thời gian ở quản.
⭐️Leo nhà
- leo nhà của người Thái Đen vật biểu tượng cho quyền sở hữu của chủ nhà, cho sự sung túc của gia đình, có gắn con ba ba và quả cù.
- leo nhà của người thái trắng không có con ba ba và quả cù mà chỉ gắn phên mắt cáo.
2: Cơ sở kinh tế
Người Thái làm ruộng nước ở các thung lũng chân núi. Khi nào VN họ chiếm lĩnh bốn thung lũng lớn nhất Tây Bắc “Nhất Thanh, Nhì Lò, Tam Than, Tứ Tấc”
Kỉ thuật canh tác khá cao với hệ thống thuỷ lợi khá hoàn chỉnh gồm
Mương: là đường khai nước để dẫn nước vào các cánh đồng
Phai: đập đắp ngang suối để đưa nước vào mương
Lin: là máng dẫn nước được làm bằng ống tre từ ruộng cao xuống ruộng thấp.
Lốc (Cọn): là bánh xe xếp nhiều ống tre chứa nước tại một dòng chảy để đưa nước lên khu vực cao
Thương nghiệp của người thái kém phát triển, phần lớn các vùng trước kia không có chợ trừ vùng cao Bắc Hà.
3: Gia Đình Dòng Họ
Gia đình của người Thái là gia đình nhỏ- Phụ Quyền. Xong tàn dư chế độ mẫu hệ còn khá đậm nét nhất là người Thái Đen, thể hiện ở một số điểm
- có thời gian ở rể khá dài trước khi đưa vợ về nhà mình. Trước năm 1954 là 8-10 năm, về sau do vận động còn 3-4 năm, rồi xuống 1 năm, từ năm 2004 trở lại đây còn 6-8 tháng ở quản của người Thái Đen.
- tổ chức cưới hai lần. Lần 1 ở nhà gái, khi chàng trai đến ở rể chính thức, lần 2 khi hết hạn ở rể để đưa vợ về nhà mình. Hết hạn ở rể người chồng không làm lễ cưới được thì vẫn phải ở nhà vợ, con cái vẫn thuộc nhà vợ và mang họ mẹ. Nếu một trong hai người mất con cái phải làm lễ cưới tượng trung để bố mẹ được sống với nhau ở thế giới bên kia.
Người Thái quan niệm người phụ nữ có lấy bao nhiêu đời chồng đi nữa thì khi chết đi hồn vẫn về với người chồng đầu tiên.
- Vai trò của bên ngoại, nhất là ông cậu còn khá đậm nét với bên nội. Cậu ruột có quyền có ý kiến về hôn nhân của cháu mình...
- bố mẹ vợ khi mất đi mà không có con trai thì con rể phải lập một ngôi nhà nhỏ (hươn nọi) để thờ bố mẹ vợ.
- Dòng họ (đẳm) giữ vai trò quan trọng trong đời sống của mỗi gia đình người Thái.
Các dòng họ quý tộc gồm: Lò, Cầm, Điêu, Xa, Cầm..
Các dòng họ bình dân: Quàng, Lộc,Vi, Cà......(còn tiếp)

Mới đó mà 12 năm rồi, cái ngày (9/8/2006) tình cha con xa cách.
01/11/2019

Mới đó mà 12 năm rồi, cái ngày (9/8/2006) tình cha con xa cách.

Lạc vào thiên đường!
01/07/2019

Lạc vào thiên đường!

05/04/2018

🛫🛫🛫Tỉnh Quảng Bình🛫🛫🛫
Quảng Bình nằm trên dải đất miền trung, ở vào khoảng 16°55-108°05 vĩ độ bắc, 105°37-106°39 kinh độ đông. Về phía bắc có dãy Hoành Sơn chạy từ tây sang đông dài 129km, ngăn cách Hà Tĩnh với Quảng Bình.
Đèo Ngang ghánh nặng hai vai
Một vai hà tĩnh một vai quảng bình
Phía nam QB có chung 75km địa giới với tỉnh Q.Trị.
Phía tây có dãy trường sơn hùng vĩ và vùng đất chạy dài 193km tạo nên ranh giới giữa hai tỉnh QB và Khăm Muội ( Lào)
Phía đông QB quay mặt ra biển đông có đường bờ biển dài 110km, ngoài khơi là nhiều hòn đảo kì thú như hòn la, hòn gió, hòn ông...
Địa thế QB tương đối hẹp nơi rộng nhất không quá 89km, nơi hẹp nhất chỉ 40,3km.
Thiên nhiên và cảnh quan của QB rất đa dạng. Với tổng diện tích 7935 km2. Lãnh thổ có đủ núi cao, khe sâu, sông dài, đồng bằng phì nhiêu, cồn cát chạy dài ven biển với nhiều địa danh nổi tiếng như động phong nha, thiên đường, sơn đoòng... đồng bằng lệ thuỷ, quảng ninh ( khang lộc -QB cũ) là vựa thóc nổi tiếng trong câu "nhất đồng nai- nhì hai huyện". Cửa nhật lệ là nơi sông nhật lệ đổ ra biển từng là nguồn cảm hứng thi ca cho nhiều thi sĩ như Lê Thánh Tông, đại thi hào Nguyễn Du, Ngô Thì Nhậm... dọc bờ biển có nhiều cảnh trí đẹp như vùng biển lý hoà, đá nhảy, vũng chùa - đảo yến...
Quảng Bình hiện nay có tỉnh lỵ là tp Đồng Hới, thị xã Ba Đồn, thị trấn nông trường lệ ninh, việt trung. Và 6 huyện có giao thông thuận lợi từ đường bộ, đường sông, đường hàng không, đường sắt bắc nam.
QB là vùng đất biến động dữ dội qua các thời kỳ lịch sử. Thời Hùng Vương QB thuộc bộ Việt Thường, một trong 15 bộ của nước Văn Lang cổ. Vài thế kỷ sau vương quốc Lâm Ấp lấn át tới nam đèo ngang. Và mãi đến năm 1069 QB mới lại bộ phận của quốc gia Đại Việt. Là phên dậu phía nam của nước nhà. Danh xưng QB chính thức ra đời năm 1831 dưới thời vua Minh Mạng.
Trải qua các triều đại Lý, Trần, Lê, Nguyễn, Tây Sơn vùng quê từ Hạ Cờ tới đèo Ngang từng chứng kiến biết bao sự kiện lịch sử đau thương và anh hùng của dân tộc. Sông Gianh, luỹ thầy là chiến địa phân tranh giữa quên Trịnh và quân chúa Nguyễn kéo dài từ năm 1627 đến năm 1672 với 7 trận đánh lớn, trong đó có 6 trận do quân Trịnh tấn công và 1 trận do quân chúa Nguyễn tấn công.
Trong hai cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và thống nhất Tổ Quốc QB là túi đựng bom, những người con đất QB anh hùng đã đi vào lịch sử dân tộc như mẹ Suốt, chị Trần Thị Lý... những địa danh nổi tiến như bến phà Long Đại, bến phà sông Son, đường trường sơn, làng võ xá...

05/04/2018

Bài 2: Huyền Thoại Dũng Sĩ
🐘 Ama Kông.
Dũng sĩ Ama Kông là một trong những gương mặt chính làm nên huyền thoại của núi rừng Tây Nguyên. Cuộc đời của ông đã để lại nhiều chiến tích đáng nể, ngoài việc săn bắt và thuần dưỡng được 298 con voi rừng, người đời còn biết đến ông với bài thuốc tráng dương bổ thận vang danh khắp xứ. Ông được xem là hiện thân của một vị tù trưởng một thời uy tín và nhiều thế lực, là một trong những Gru dũng mãnh nhất Tây Nguyên. Ông còn được nhiều người xem là biểu trưng cho sức khoẻ và sự trường thọ.

Ama Kông tên thật là Y Prông Êban sinh năm 1910 mất năm 2012 thọ 103 tuổi, Ama Kông là gọi theo tên người con đầu của ông (Ama lá cha, Kông là người con đầu của ông tên là Kông). Ông là con trai của một trong số những tù trưởng danh tiếng lẫy lừng, trong đoàn người du mục từ vùng Đông Thâu, Pắc Xế ( giáp ranh Lào và Campuchia) thời đó, có ba anh em là Y Thu, Y Ki và Y Leo, họ đều xuất thân từ dòng dõi tù trưởng. Ama Kông là con của tù trưởng YKi, dòng máu chảy trong người đã khiến Ama Kông có được những tố chất để trở thành người đặc biệt nhất của dòng họ sau này.
Ngay từ khi còn nhỏ cậu bé Ama Kông đã bộc lộ tư chất của một dũng sĩ săn voi, năm 13 tuổi ông là thợ phụ cho đoàn săn voi, năm 17 tuổi trở thành thợ chính, thời trai trẻ Ama Kông có thể vật ngã một con bò rừng, chạy nhanh như trâu Min ( loại trâu rừng rất hiến ở bản Đôn). Ama Kông được xem là người có ngoại hình hấp dẫn, sức khoẻ phi thường. Tiếng tăm của ông vang xa tới mức vua Bảo Đại và Tổng thống Ngô Đình Diệm cũng tìm gặp mỗi lần thăm thú Tây Nguyên. Ông có vinh dự tháp tùng vua Bảo Đại đi săn voi và được trao tặng thanh kiếm hộ mệnh biểu trưng cho quyền lực. Ông cũng là một trong số ít Gru ở bản Đôn săn được voi trắng và thuần dưỡng được voi một ngà ( loài voi này vô cùng hung tợn), voi trắng là loài voi vô cùng tinh khôn, thân trắng như trâu bạc, ngà đỏ như kiến lửa, tỉnhanh vô cùng. Không những giỏi cưởi voi, phi ngựa, Ama Kông còn từng đi học trường tây ở BMT, thành thạo tiếng Pháp, lái xe Jeep, diện com-lê, thắt cà vạt, đi giày đen. Những thứ đó được xem là rất lạ lẫm với tây nguyên, vì khi ấy họ chỉ biết cưỡi voi, măc áo truyền thống và đóng khố.
Điều kì lạ nhất là người thân của ông chưa bao giờ thấy ông ốm đau, bệnh tật. Ông thường vào trong rừng tìm những lá, rễ cây thơm lừng đem về phơi rồi dùng dần, người dân bản Đôn thấy ông mạnh khoẻ gái trẻ cũng phát mê, muốn làm vợ của ông nên họ cũng tìm những thứ cây, bài thuốc do ông bày cho. Khi các nhà y hoc cổ truyền vào nguyên cứu họ thấy rằng bài thuốc của ông có đóng góp lớn cho y học cổ truyền việt nam. Thuốc của ông không những có tác dụng tăng cường sinh lực mà còn chữa nhiều bệnh nội tạng cho phụ nữ.

Vậy là thời đại của các dũng sĩ qua đi, linh hồn của họ đã hoà vào những cánh rừng ngọn núi, nhưng tên tuổi của họ vẫn sừng sững như một huyền thoại sống trên đại ngàn Tây Nguyên hùng vĩ.

CÁC KỶ VẬT VÀ DỤNG CỤ SĂN VOI
05/04/2018

CÁC KỶ VẬT VÀ DỤNG CỤ SĂN VOI

Address

D’Gold
New City, NY

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Like Tour Việt Nam posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Business

Send a message to Like Tour Việt Nam:

Share