08/05/2026
“Ale” là cây le, “Kram” là cây tre, còn “Pơ’ô” mới là cây lồ ô. Vì vậy, nhiều khả năng thuở đầu Ban Mê Thuột được hình thành tại khu vực buôn Kram, nằm gần buôn Ale. Khi dân cư ngày càng đông đúc, khu vực này dần tách thành buôn Alê A và Alê B như hiện nay. Địa bàn ấy có lẽ trải dọc theo triền đồi từ khúc cua đường Đinh Tiên Hoàng xuống nhánh suối Ea Tam. Con suối này trước kia còn được gọi là suối Maury. Đám trẻ chúng tôi ngày ấy thường đọc chệch thành “suối Bu-ri”, do sau thời Sabatier, nhà tư sản Maury từng đầu tư khai thác tại vùng này. Vợ ông là bà Hồ Thị Thơm, chị gái của bà Ba-lô ở đường Lê Hồng Phong và bà chủ quán cà phê Bâng Khuâng trên đường Phan Bội Châu.
Năm 1905, bản đồ quy hoạch đầu tiên về Ban Mé Thuột được ấn hành. Buôn đầu tiên xuất hiện gắn với đô thị là buôn Kram. (“Kram” nghĩa là tre). Buôn Kram ở huyện Cư Kuin ngày nay có thể chỉ là sự trùng tên, hoặc cũng có khả năng là sự dịch chuyển của buôn Kram cũ. Ở Đắk Lắk vốn có nhiều buôn làng trùng tên nhau, như Buôn Jung ở Cư Kuin và Buôn Jung ở Krông Pắc; Buôn Ale ở Ea H’leo, Buôn Ale ở huyện Lắk và Ale ở Ban Mê Thuột.
Trong các lễ tang xưa, các thầy cúng vẫn đọc câu: “Dơng mơng Buôn Ama Y Thuột Kram Ale…” nghĩa là “từ khi khai hoang buôn Ma Thuột đầy tre nứa…”. Chi tiết ấy phần nào cho thấy dấu vết cổ xưa của không gian cư trú đầu tiên nơi đây.
Đến năm 1918, bản đồ thứ hai được xuất bản. Lúc này đã xuất hiện “làng An Nam”, tức khu cư dân người Trung Kỳ, được bố trí bên cạnh buôn Kram tại Ban Mé Thuột. Bản đồ năm 1918 cũng ghi nhận thêm một buôn lớn ở phía tây nam thành phố ngày nay, gồm Alê A và Alê B.
Năm 1930, dưới thời Sabatier, bản đồ tiếp tục ghi nhận rõ khu phố An Nam cùng khu phố Tây của người Pháp, tương ứng khu vực các đường Nguyễn Công Trứ, Đinh Tiên Hoàng, Hùng Vương và khu bảo tàng hiện nay. Không gian cư trú của người Êđê vẫn được tách biệt, không hòa vào khu phố người Trung Kỳ. Khu phố người Trung Kỳ về sau trở thành trung tâm thành phố, nơi tọa lạc đình Lạc Giao và chùa Sắc Tứ Khải Đoan.
Đáng chú ý, trên hai tấm bản đồ năm 1918 và 1930 có ghi tên hai nhân vật: Khun Sụ Lốp và Y Say. Ông Y Say thì khá quen thuộc trong ký ức địa phương, nhưng vì sao lại xuất hiện tên Khun Sụ Lốp, tức “Vua Voi”?
Năm 1905, khi Léon Bourgeois được bổ nhiệm làm Công sứ Darlac, “tỉnh lỵ” lúc ấy vẫn đặt tại Bản Đôn. Tại đây có một nhân vật được xem như huyền thoại sống của vùng đất Tây Nguyên. Người Pháp gọi ông là Khunjonob, bắt nguồn từ tước hiệu “Khun Ju Nốp” do vua Xiêm ban tặng. Trong tiếng Mnông, ông có tên là N’Thu K’nul, còn người Êđê gọi ông là Y Thu.
Là người am hiểu sâu sắc địa thế vùng cao nguyên, ông đã khuyên Bourgeois không nên tiếp tục đặt tỉnh lỵ tại Bản Đôn mà cần chuyển đến một vị trí thuận lợi hơn, cách khoảng 54 km, chính là Buôn Ma Thuột ngày nay. Từ năm 1899 đến 1913, bốn viên công sứ Pháp gồm Léon Bourgeois, Charles Bardin, Henri Besnard và Louis Cottez đã lần lượt thực hiện định hướng ấy của “Vua Voi”.
Đến thời Sabatier, năm 1914, A. Monfleur từng viết về vị công sứ này bằng một câu vừa gợi mở vừa nhiều hàm ý:
“Tới năm 1914, khi Sabatier đến, xứ sở này bắt đầu nhận ra chính mình và tự tổ chức lại…”
Ban Mé Thuột khi ấy như bừng tỉnh từ một thung lũng nhỏ để chuyển mình lên một bình nguyên rộng lớn chỉ cách đó khoảng 500 mét. Chính quyết định dịch chuyển trung tâm ấy đã tạo nên một thế đứng hoàn toàn khác cho đô thị non trẻ: không chỉ mở rộng không gian phát triển, mà còn đặt nền móng để Ban Mé Thuột trở thành trung tâm của cả vùng cao nguyên rộng lớn sau này.