Thư Viện Điện Tử Quan Họ Thổ Hà

Thư Viện Điện Tử Quan Họ Thổ Hà Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from Thư Viện Điện Tử Quan Họ Thổ Hà, Tour guide, Làng Thổ Hà, Bac Ninh.

Thư viện điện tử Quan Họ Thổ Hà là fanpage chia sẻ thông tin hữu ích về Quan Họ qua sự nghiên cứu, sưu tầm của NNND Nguyễn Phú Hiệp & NNC Nguyễn Trọng Hải cùng CLB Quan Họ Thổ Hà.

ĐIỂN TÍCH, ĐIỂN CỐ LÀ GÌ ?  Tuy có quan hệ gần gũi, nhưng hai khái niệm này không hoàn toàn đồng nghĩa. Dưới đây là cách...
21/09/2026

ĐIỂN TÍCH, ĐIỂN CỐ LÀ GÌ ?
Tuy có quan hệ gần gũi, nhưng hai khái niệm này không hoàn toàn đồng nghĩa. Dưới đây là cách hiểu phân biệt rõ ràng, khoa học và dễ nhớ: Trong hơn 4.000 câu quan họ có hơn 300 điển tích.
________________________________________
1. Điển tích là gì?
Điển tích (典跡) là câu chuyện, sự kiện, nhân vật hoặc hình ảnh có thật hoặc được ghi chép trong sách vở cổ, được người đời sau mượn để gợi ý nghĩa, ví von, biểu trưng cho một tư tưởng, tình cảm nào đó.
• Nguồn gốc: thường lấy từ sử sách, kinh điển, truyện thần thoại, truyền thuyết, văn học cổ (như Kinh Thi, Sử Ký, Trang Tử, Liệt Nữ truyện, Truyện Kiều, v.v.).
• Tác dụng: tạo chiều sâu văn hóa, tăng tính hàm súc và gợi cảm cho câu thơ, câu văn.
• Ví dụ:
o “Tích Trương Chi – Mỵ Nương”: nói về tình yêu đơn phương, mối tình trong sáng nhưng không trọn.
Ngày xưa có chàng Trương Chi
Người thì thật xấu hát thì thật hay
Cô Mỵ Nương vốn ở Lầu Tây
Con quan thừa tướng ngày rày cắm cung
Chàng Trương Chi sống ở bên sông
Chèo đò ngang dọc đêm đông dãi dầu
Mỵ Nương nghe hát thì thương
Hồ trông thấy mặt anh chường lại chê
Trương Chi mới trở ra về…
(Trương Chi, Mỵ Nương – DCQH)
o “Tích Tư Mã Tương Như – Trác Văn Quân”: nói về tình yêu mãnh liệt vượt lễ giáo.
o “Tích Ngu Cơ tự vẫn”: biểu trưng cho sự tiết liệt, chung tình.
Như vậy, điển tích là “chất liệu”, là cốt truyện, sự kiện gốc được dùng để dẫn dụng.
________________________________________
2. Điển cố là gì?
Điển cố (典故) là cách sử dụng, cách dẫn dụng điển tích trong lời văn, lời thơ — tức là câu nói, cụm từ, hình ảnh đã trở thành lối nói quen thuộc, có ý nghĩa tượng trưng.
• Nguồn gốc: hình thành từ việc lặp đi lặp lại cách dùng điển tích của nhiều tác giả qua thời gian.
• Tác dụng: gợi ý sâu sắc mà không cần kể rõ, thể hiện trình độ học vấn, sự tinh tế của người viết.
• Ví dụ:
o “Gót sen” → điển cố về Tây Thi, tượng trưng cho người con gái đẹp.
Gót sen khẽ động giấc hòe
Bóng giăng đã xế hoa lê lại gần
Bâng khuâng đỉnh núi non Thần
Còn ngờ giấc mộng đêm xuân mơ màng
(Gương rọi đầu cành – DCQH)
o “Bút Tô Tần, tay Tạ Linh Vận” → gợi ý tài văn chương xuất chúng.
o “Cổ kim hận sự thiên nan vấn” → điển cố về nỗi sầu muôn thuở của nhân gian.
Như vậy, điển cố là “cách nói” được rút ra từ điển tích, là sự vận dụng điển tích trong sáng tạo nghệ thuật.

KHĂN XẾP QUAN HỌ  Đây là hình ảnh khăn xếp có hình chữ nhân chuẩn  chỉnh của Liền anh quan họ với ý nghĩa: chữ "nhân" là...
07/09/2026

KHĂN XẾP QUAN HỌ
Đây là hình ảnh khăn xếp có hình chữ nhân chuẩn chỉnh của Liền anh quan họ với ý nghĩa: chữ "nhân" là chữ đầu tiên trong khái niệm xưa (nhân, nghĩa, lễ, trí, tín). Đối với người quan họ chỉ cần là một người bình thường là đủ rồi, biết đam mê, biết lo cơm áo gạo tiền là tốt rồi. Những gì bình thường nhất có khi cả một đời người cũng khó có thể thực hiện được. ( Mẫu khăn xếp này có thể liên hệ với nhà may Hồng Anh - 0962856268). Cũng nói thêm khăn xếp lâu nay các liền anh đội không phải là khăn xếp quan họ ạ.

CHUYỆN CÂU QUAN HỌ ‘ĐÊM QUA NHỚ BẠN’’   Câu quan họ đậm chất trữ tình giao duyên tình yêu đôi lứa, tình bạn tri kỷ với n...
26/08/2026

CHUYỆN CÂU QUAN HỌ ‘ĐÊM QUA NHỚ BẠN’’
Câu quan họ đậm chất trữ tình giao duyên tình yêu đôi lứa, tình bạn tri kỷ với những cung bậc cảm xúc tinh tế, e ấp và thủy chung. Mượn cảnh ngụ tình sâu sắc để bộc lộ nội tâm trăn trở, nhớ nhung của con người.
Ngôn từ mộc mạc mà bác học: Kết hợp hài hòa giữa lời ăn tiếng nói dân dã của người lao động với chất liệu văn học cổ, điển tích, điển cố. Đề cao lối sống lịch sự, trọng danh dự, ứng xử nhã nhặn, trọng nghĩa trọng tình và tôn trọng bạn chơi quan họ.
ĐÊM QUA NHỚ BẠN
Hai Tương làng INa
Câu đối: Đêm trăng nhớ bạn
Đêm qua nhớ bạn tôi buồn
Đồng hồ thánh thót , .......... giăng theo
Lòng này bối rối về ai
Cái nông nỗi này ngỏ cùng chị Hai
Đêm qua trỗi dậy tôi buồn
Chim kêu ...... , đàn long phím rồi
Lòng buồn thương nhớ về ai
Tâm sự này ........ ai song cùng
Đêm nay thao thức tôi buồn
Cầm canh ....... , cờ tiên bí liền
Lòng tôi bối rối về ai
(HN)
Ý niệm về nỗi buồn thương, sự bối rối và tâm trạng thao thức, trằn trọc thâu đêm lẻ bóng vì nhớ một ai đó là chủ đề vĩnh cửu của văn học. Cả trong Kinh Thi (tập thơ cổ nhất của Trung Quốc) lẫn các bài Cổ thi/Đường thi, có rất nhiều tác phẩm mang tính chất đồng điệu sâu sắc với câu quan họ "Đêm qua nhớ bạn":
1. Sự đồng điệu trong Kinh Thi
Câu quan họ có câu: "Đêm nay thao thức tôi buồn... Lòng tôi bối rối về ai". Trong Kinh Thi, nỗi trằn trọc này là cội nguồn của thi ca tình yêu:
• Bài "Quan thư" (雎關 - Quốc phong - Chu nam): Đây là bài thơ mở đầu của Kinh Thi và là tác phẩm nổi tiếng nhất nói về tâm trạng nhớ thương đến mất ngủ.
o Lời thơ cổ: “Cầu chi bất đắc / Ngộ mị tư phục / Du tai du tai / Triển chuyển phản trắc”.
o Dịch nghĩa/Dịch thơ: Tìm mà chẳng được, thức hay ngủ đều nhớ thương. Chao ôi nghĩ ngợi vô ngần, đêm nằm thao thức, hết trở mình lại trằn trọc. Cụm từ "Triển chuyển phản trắc" (辗转反侧) trong bài thơ này đã trở thành thành ngữ kinh điển chỉ sự trằn trọc vì nhớ nhung.
• Bài "Thái cát" (采葛 - Quốc phong - Vương phong): Bài thơ diễn tả sự bồn chồn, bối rối về thời gian khi nhớ người thương.
o Lời thơ cổ: “Nhất nhật bất kiến / Như tam thu hề”.
o Dịch thơ: Một ngày không gặp mặt / Ngỡ bằng ba mùa thu. Sự bối rối và cảm giác đêm dài lê thê của liền chị trong quan họ rất gần với tâm lý "một ngày bằng ba thu" này.
2. Sự đồng điệu trong Cổ thi (Hán học)
Câu quan họ mượn hình ảnh "Đồng hồ thánh thót, dế buồn giăng theo" hay "Cầm canh gà gáy" để nhấn mạnh dòng chảy thời gian của người thức đợi.
Đêm rằm tháng Giêng, hội làng quanh khu vực thành Kinh Bắc vào đám. Gió xuân mang theo cái lạnh ngọt ngào của mưa phùn và hương nhang trầm thơm ngát, lùa qua những rặng tre ngà bên các dòng sông Tiểu Khê.
Tại gian nhà cổ của cụ Đồ họ Nguyễn làng quan họ YNa, canh ca thờ vừa dứt. Giờ là lúc các Liền anh làng YNa và Liền chị làng Bò Sơn bước vào canh chơi đối đáp - giao duyên.
Trong ánh nến sáp ong mờ ảo, Liền chị Hai diện áo năm tà mớ ba mớ bảy, đầu đội nón ba tầm, thắt lưng bao vai màu hoa hiên nhuộm sẫm. Ngồi đối diện cô qua chiếc sập gụ là anh Ba, người thư sinh có đôi mắt sáng và nụ cười kín đáo.
Họ đã ca qua những câu giọng cổ, giọng vặt từ lúc sương sớm mới đậu trên cành đào, nay đã sang canh ba. Gian nhà vắng lặng, chỉ còn tiếng gõ nhịp sứa của cụ Đồ và tiếng thở dài của đêm xuân.
Anh Ba khẽ hắng giọng, người hơi nghiêng về phía trước, cất giọng vang, rền, nền, nảy:
"Đêm qua nhớ bạn tôi buồn... Đồng hồ thánh thót, dế buồn giăng theo..."
Giọng ca của anh như dòng nước trong chảy vào màn đêm. Anh ca về nỗi lòng trằn trọc, về tiếng dế kêu sầu, về cái bối rối không biết ngỏ cùng ai.
Chị Hai ngồi cúi đầu, tay khẽ vân vê tà áo lụa Hà Đông. Nhịp tim cô đập dồn dập. Lời ca của anh Ba như chạm đúng vào phần sâu kín nhất trong lòng cô suốt mấy mùa hội qua. Cô là người hay chữ, mượn sách thánh hiền của cha, cô biết bên kia biên thùy xa xôi, hàng ngàn năm trước, người xưa trong Kinh Thi cũng từng có nỗi lòng trăn trở như vậy.
Cô khẽ ngước mắt, nhìn thẳng vào anh Ba, rồi cất giọng đối mộc, thanh tao nhưng chất chứa sóng lòng:
"Tình lang ơi... Người xưa trong Kinh Thi có câu 'Triển chuyển phản trắc', đêm nằm thao thức, hết trở mình lại trằn trọc vì nhớ thương. Nhớ ai mà một ngày dài tựa ba thu? Cái nông nỗi của anh Ba đêm qua, dẫu không nói ra, lòng em cũng đã bối rối tự bao giờ..."
Cụ Đồ nghe đến đó, tay gõ nhịp bỗng dừng lại, gật gù tán thưởng: "Phải lắm! Quan họ nhà mình với thơ Kinh Thi của người xưa tuy hai mà một. Đều là cái tình cốt nhục, cái nghĩa kim cải, yêu nhau đến ruột thắt gan bào mà lời ca vẫn nền nã, thanh cao".
Anh Ba nghe lời đối đáp thấu tình đạt lý của chị Hai thì lòng mừng như mở hội. Anh tiếp lời bằng câu ca:
"Đêm nay thao thức tôi buồn... Cầm canh gà gáy, cờ tiên bí liền... Lòng tôi bối rối về ai..."
Tiếng gà rừng đã gáy tiễn canh năm. Hồi chơi giã bạn bắt đầu khi sương mù buông dày trên bến dòng Tiểu Khê. Theo luật tục nghiêm ngặt của Liền anh Liền chị Kinh Bắc, họ "chơi quan họ giữ nghĩa, không giữ người". Họ yêu nhau bằng giọng ca, bằng cái nết, cái tình, nhưng khi hội tan, ai lại về nhà nấy, giữ vẹn gia phong.
Bước ra khỏi cổng nhà cổ, anh Ba trao cho chị Hai miếng trầu cánh phượng miếng cau khô tiễn chân. Chị Hai nhận trầu, giấu giọt nước mắt sau vành nón ba tầm, khẽ cúi đầu chào rồi bước đi vào màn sương. Họ hẹn nhau hội làng sang năm lại tới, để lại đem cái "bối rối" của lòng mình gửi vào câu ca, nối dài sợi tơ duyên ngàn năm của vùng đất Kinh Bắc.
Cuộc đối đáp giữa anh Ba và chị Hai thể hiện qua việc đối chữ, đối giọng và đối tình, mượn điển tích Kinh Thi để bộc lộ nỗi niềm thâm trầm. Qua những làn điệu quan họ cổ, chị Hai đối lại nỗi lòng "cờ tiên bí" của anh Ba bằng "trăng khuyết đợi tròn", còn anh Ba ứng tác lời ca về "nhớ người như nhớ ba thu". Tình cảm của họ được khẳng định qua hành động mời trầu và tiếng ca "kết chạ" thắm đượm tình quê. Đấy là tích chuyện câu quan họ “Đêm qua nhớ bạn”

CHỮ “LỊCH” TRIẾT LÝ SỐNG HAY NHẤT TRONG LỜI CA QUAN HỌ(Dự án: Tìm những lời quan họ xưa)  Trong hơn 4.000 lời ca Quan họ...
20/08/2026

CHỮ “LỊCH” TRIẾT LÝ SỐNG HAY NHẤT TRONG LỜI CA QUAN HỌ
(Dự án: Tìm những lời quan họ xưa)
Trong hơn 4.000 lời ca Quan họ Bắc Ninh có 375 lần nhắc tới chữ “lịch”, ngoài một số chữ “lịch” gắn với địa danh như Tô Lịch, Lịch Sơn, Lịch San,.. còn lại chữ "lịch" là một từ cổ, từ gốc Hán-Việt mang nhiều tầng nghĩa phong phú. Tùy vào từng ngữ cảnh cụ thể trong các câu ca, chữ "lịch" được chia thành ba nhóm nghĩa chính: chỉ vẻ đẹp phong thái, chỉ sự trải nghiệm cuộc đời, và chỉ sự sạch sẽ, ngăn nắp.
Dưới đây là phân tích chi tiết cho từng ngữ cảnh cụ thể:
1. "Lịch" là lịch sự, thanh lịch, nhã nhặn (Chỉ vẻ đẹp con người và lối sống)
Đây là nghĩa phổ biến nhất trong Quan họ. Chữ "lịch" ở đây nằm trong các từ ghép như lịch sự, thanh lịch, xinh lịch. Nó dùng để ca ngợi vẻ đẹp ngoại hình kết hợp với tư cách đạo đức, sự tinh tế, khéo léo trong giao tiếp của người Liền anh, Liền chị.
• "Nhất xinh, nhất lịch khôn ngoan trăm bề" & "Đôi ba người xinh lịch ngồi ca bên ấy ơi": "Xinh" là vẻ đẹp bên ngoài, còn "lịch" là vẻ đẹp của sự gia giáo, đức hạnh và cách ứng xử nhã nhặn. Người "xinh lịch" là người hoàn hảo cả sắc lẫn tài.
• "Giai xinh gái lịch vợ chồng sánh đôi": Sự tương xứng giữa người con trai tài giỏi, bảnh bao và người con gái thùy mị, đoan trang, lịch thiệp.
• "Thấy người lịch sự em thương / Thấy người lịch sự đảm đang còn tài": "Lịch sự" ở đây không chỉ là sự chỉn chu trong ăn mặc, mà là sự tinh tế, biết đối nhân xử thế khiến người khác nể phục và nảy sinh tình cảm.
• "Không đâu lịch sự bằng người ở đây" & "Thị thành cũng lịch thôn quê cũng màu": Ca ngợi lối sống văn minh, phong nhã, trọng nghĩa tình của con người ở vùng đất Quan họ. Dù là ở thành thị hay thôn quê thì cái nét thanh lịch, chuẩn mực vẫn được giữ gìn.
• "Vui chơi thanh lịch hữu tình": Cuộc chơi quan họ là cuộc chơi văn hóa, hòa nhã, thanh cao và giàu tình nghĩa, không dung tục.
2. "Lịch" là lịch duyệt, trải nghiệm, vượt qua (Chỉ quá trình tinh luyện)
Nghĩa này gắn liền với gốc từ trong "lịch sử", "lịch lãm" (chữ 歷 - nghĩa là trải qua, từng trải, trải nghiệm).
• "Trà mạn hảo có hương có vị / Lịch trăm chiều trăm vẻ càng xinh":
o Rất sâu sắc. Chữ "lịch" ở đây có nghĩa là trải qua, vượt qua.
o Để làm ra chén trà Mạn Hảo thượng hạng, búp trà phải "lịch" (trải qua) "trăm chiều" công đoạn gian khổ: từ hái, phơi, sao, vò, sấy, cho đến việc chà xát, uốn nắn.
o Sau khi trải qua trăm bề thử thách, cánh trà xoăn lại, thành hình đổi dạng, khi pha ra vừa có hương vừa có vị, "trăm vẻ càng xinh". Đây cũng là hình ảnh ẩn dụ cho con người phải trải qua rèn luyện, sóng gió cuộc đời mới trở nên chín chắn, thanh cao và giá trị.
3. "Lịch" là sạch sẽ, gọn gàng, đẹp đẽ (Chỉ không gian, cảnh quan)
Đây là một nét nghĩa mang tính khẩu ngữ cổ, hành động.
• "Nghe lệnh quan truyền, Các chú dọn con đường cho nó lịch": "Lịch" trong câu này đồng nghĩa với sạch sẽ, quang đãng, ngăn nắp, tươm tất. Dọn đường cho "lịch" là làm cho con đường phong quang, đẹp đẽ để đón quan hoặc đón khách, thể hiện sự trang trọng và hiếu khách.
Chữ "lịch" lại được ưu ái đặc biệt để mô tả người con gái (Liền chị) vì những lý do sâu sắc sau:
1. Quy luật đối từ tinh tế của tiếng Việt cổ
Trong tư duy ngôn ngữ của cha ông ta, vẻ đẹp của nam và nữ được phân định rất rõ ràng về tính chất:
• Nam (Trai thanh / Giai xinh): Chữ "thanh" (trong thanh tú, thanh cao) chỉ khí chất nho nhã, thông tuệ, phong độ hiên ngang. Còn chữ "xinh" trong Quan họ cổ (như "nhất xinh, nhất lịch") dùng cho nam để chỉ diện mạo bảnh bao, khôi ngô, sáng sủa của các liền anh.
• Nữ (Gái lịch): Chữ "lịch" (trong thanh lịch, lịch sự) lại hướng về chiều sâu. Vẻ đẹp của người phụ nữ Kinh Bắc không dừng lại ở sắc cuốn hút bên ngoài mà nằm ở sự gia giáo, nền nếp, đoan trang và cách đối nhân xử thế vô cùng tinh tế. Chữ "lịch" sinh ra là để tôn vinh cái nét duyên ngầm đạo đức đó của người con gái.
2. Đặc trưng văn hóa ứng xử của Liền chị Quan họ
Người con gái vùng Kinh Bắc nổi tiếng với lối ứng xử "đẹp từ trong nhà ra ngoài ngõ". Chữ "lịch" gắn với họ vì nó bao hàm toàn bộ các phẩm chất:
• Lịch thiệp trong giao tiếp: Liền chị Quan họ khi tiếp khách bao giờ cũng "đón đưa bằng năm bằng ba", ăn nói nhỏ nhẹ, khiêm nhường ("dạ", "thưa", xưng "em" gọi "liền anh").
• Lịch sự trong trang phục: Trang áo năm tà, áo tứ thân mặc kín đáo, nón ba tầm che nghiêng nửa mặt duyên dáng, không phô trương nhưng vô cùng sang trọng, nền nã.
• Đảm đang, lịch duyệt cuộc sống: "Thấy người lịch sự đảm đang còn tài". Chữ "lịch" gắn liền với năng lực quán xuyến gia đình, thạo việc đồng áng, khéo việc cửi canh nhưng bước ra chiếu hội lại ca hát vang, rền, nền, nảy.
3. Sự chuyển dịch ngữ nghĩa theo thời gian
Cụm từ cửa miệng "trai xinh gái đẹp". Đây là cách dùng từ hiện đại, có xu hướng cào bằng ngữ nghĩa và chỉ tập trung vào ngoại hình.
Ngược lại, cụm từ "Giai xinh gái lịch" trong Quan họ giữ nguyên giá trị cốt lõi: Con trai thì phải khôi ngô, có khí chất; con gái thì phải duyên dáng, gia giáo, ứng xử thông minh, chu toàn. Sự kết hợp này tạo nên một cặp đôi hoàn hảo tuyệt đối theo chuẩn mực văn hóa truyền thống.

________________________________________
Tóm lại
Chữ "lịch" trong dân ca Quan họ là một "nhãn tự" (từ hay nhất) thể hiện rõ nét triết lý sống của người Kinh Bắc:
• Đối với con người: Phải thanh lịch, khôn ngoan, ứng xử tinh tế.
• Đối với sự vật (như trà): Phải trải qua rèn luyện, thử thách ("lịch trăm chiều") mới đạt đến độ hoàn hảo.

SỬ QUAN ĐỖ TRỌNG VỸ - NGƯỜI ĐƯA QUAN HỌ VÀO SỬ SÁCH (Nhiều lời quan họ gốc được tìm thấy từ các tài liệu của cụ)  Rất nh...
26/07/2026

SỬ QUAN ĐỖ TRỌNG VỸ - NGƯỜI ĐƯA QUAN HỌ VÀO SỬ SÁCH
(Nhiều lời quan họ gốc được tìm thấy từ các tài liệu của cụ)
Rất nhiều danh xưng như “Báu vật quan họ sống”, cần dựng tượng cho ông HD… do có công lớn trong việc bảo tồn quảng bá dân ca quan họ. Nhưng nhìn vào lịch sử mới thấy có ai bằng danh sỹ Đỗ Trọng Vỹ người con của đất Thuận Thành, Bắc Ninh.
Sách Bắc Ninh dư địa chí do sử gia Đỗ Trọng Vỹ biên soạn (ông là nhà giáo, danh sĩ, nguyên Đốc học Bắc Ninh thế kỷ 19).
o Nội dung: Tại chương chép về huyện Yên Phong, cụ Đỗ Trọng Vỹ đã ghi lại phong tục ca hát của các làng xã và trực tiếp chép lại lời ca đối đáp: "Nhất ngon là mía Lan Điền. Trai khôn đứng đấy, gái hiền ngồi đây". …..
Bản thân sử quan triều Nguyễn viết bằng chữ Hán chính thống nên họ không chép trực tiếp các câu thơ lục bát Nôm như "Nhất ngon là mía Lan Điền" hay "Cái hời cái ả" vào chính văn sử triều đình. Các nhà nghiên cứu hiện đại khi viết bài đã "mượn" ý từ Đại Nam nhất thống chí để làm bàn đạp lý luận, rồi dẫn chứng các câu hát quan họ từ sách của cụ Đỗ Trọng Vỹ để bài viết thêm sinh động.
Khi các sử quan và trí thức nho học thế kỷ 19 (như cụ Đỗ Trọng Vỹ hay các sử quan triều Nguyễn) đi khảo sát vùng đất Bắc Ninh, họ thấy người dân có tục trai gái tụ tập thành từng nhóm, đứng hoặc ngồi ở các không gian cao ráo như cửa đình, thềm nhà, hè nhà để hát đối đáp giao duyên với nhau.
Vì chữ "Quan họ" lúc đó là tiếng lóng địa phương, không có trong từ điển chữ Hán chính thống, nên các sử quan đã dùng từ "đăng ca" làm từ hoán dụ để định danh cho hình thức diễn xướng này. Trong ngữ cảnh đó, "đăng ca" được hiểu là:
• Tục hát đối đáp: Trai gái thanh lịch tụ tập ca hát giao duyên công khai trong các dịp hội hè, lễ tết.
• Hát có bài bản: Lối hát có tổ chức, có lề lối và mang tính nghệ thuật cao, chứ không phải là tiếng hát hò lao động tùy tiện trên đồng ruộng.
Chính vì vậy, khi sách Bắc Ninh phong thổ tạp ký viết "Đông Xuất có du nữ thích tục đăng ca", câu này dịch nghĩa chân phương ra tiếng Việt hiện đại chính là: "Làng Đông Xuất có các cô gái thích tục hát Quan họ".
Làng Đông Xuất trong các thư tịch cổ thế kỷ 19 hiện nay là thôn Đông Xuất, thuộc xã Đông Thọ, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.
Cụ Đỗ Trọng Vỹ (1829 – 1899) là một danh thần triều Nguyễn, một nhà giáo dục lừng danh và là nhà văn hóa lớn của vùng đất Kinh Bắc thế kỷ 19. Tên tuổi của ông gắn liền với tác phẩm địa chí cổ và công lao phục dựng một trong những biểu tượng văn hóa lớn nhất của tỉnh Bắc Ninh.
Thân thế và sự nghiệp của ông gồm các nét chính sau:
1. Xuất thân và Gia thế khoa bảng
• Quê quán: Ông sinh ra tại làng Đại Mão, xã Hoài Thượng, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Đây là ngôi làng nổi tiếng có truyền thống hiếu học và khoa bảng của xứ Kinh Bắc.
• Tên gọi khác: Ông có tự là Tham Thiền, hiệu là Khôi Hữu.
• Dòng dõi: Theo gia phả dòng họ, cụ Đỗ Trọng Vỹ chính là hậu duệ của Trạng nguyên Nguyễn Quang Bật (vị Trạng nguyên triều Lê sơ).
2. Con đường khoa cử và Sự nghiệp làm quan
• Khoa cử: Ông đỗ Cử nhân khoa Nhâm Tý (năm 1852) dưới thời vua Tự Đức. Do bối cảnh lịch sử thời bấy giờ, ông không tiếp tục thi đại khoa mà ra làm quan.
• Chức vụ: Trong cuộc đời làm quan, ông từng kinh qua nhiều chức vụ hành chính và giáo dục quan trọng như: Tri huyện, Tri phủ, và đỉnh cao là Đốc học tỉnh Bắc Ninh (người đứng đầu cơ quan giáo dục, thi cử của một tỉnh thời phong kiến). Cương vị Đốc học là nơi ông cống hiến trọn vẹn tài năng và tâm huyết của mình.
3. Những đóng góp văn hóa, giáo dục vĩ đại cho Bắc Ninh
Cụ Đỗ Trọng Vỹ được hậu thế tôn vinh nhờ hai công lao vô cùng lớn:
• Khởi dựng lại Văn miếu Bắc Ninh:
o Năm 1889, ông chủ trì việc khắc 12 tấm bia đá cao quý mang tên "Kim bảng lưu phương" nhằm vinh danh gần 677 vị đỗ đại khoa (Trạng nguyên, Tiến sĩ...) của toàn xứ Kinh Bắc xưa.
o Năm 1893, nhận thấy Văn miếu Bắc Ninh ở vị trí cũ (núi Thị Cầu) bị đổ nát do chiến tranh, ông đã đứng ra kêu gọi các văn thân, sĩ phu và nhân dân quyên góp, di dời toàn bộ Văn miếu về đỉnh núi Phúc Sơn (nay thuộc phường Đại Phúc, TP. Bắc Ninh). Đây chính là di tích Văn miếu Bắc Ninh bề thế mà chúng ta thấy ngày nay.
• Biên soạn sách Bắc Ninh dư địa chí:
o Ông là tác giả của cuốn dư địa chí vô giá này, ghi chép tỉ mỉ về địa lý, hành chính, phong thổ, con người, sản vật và cả các tập quán ca hát dân gian (tiền thân của dân ca Quan họ) của quê hương Kinh Bắc. Sách của ông là nguồn sử liệu cốt lõi để các nhà khoa học sau này nghiên cứu về nguồn gốc Quan họ.
4. Tôn vinh và Tưởng niệm
• Thờ phụng: Hiện nay, tượng thờ và bài vị của danh sĩ Đỗ Trọng Vỹ được trân trọng an vị tại chùa Hàm Long (thành phố Bắc Ninh) và được thờ tự như một bậc tiền triết tại Văn miếu Bắc Ninh.
• Vinh danh: Tên của ông được đặt cho một trong những con đường lớn và sầm uất bậc nhất tại trung tâm thành phố Bắc Ninh để ghi nhớ công ơn một người thầy vĩ đại của đất học.

QUAN HỌ CẦN “TRUNG THỰC VỚI TRUYỀN THỐNG”(Quan họ nay có hiện tượng sính ngoại để làm gì ?)• "Trung thực với truyền thốn...
25/07/2026

QUAN HỌ CẦN “TRUNG THỰC VỚI TRUYỀN THỐNG”
(Quan họ nay có hiện tượng sính ngoại để làm gì ?)
• "Trung thực với truyền thống" đăng trên Báo Đại biểu Nhân dân (cơ quan ngôn luận của Quốc hội Việt Nam) : Xuất bản ngày 22 tháng 3 năm 2013 (giai đoạn sau khi Dân ca Quan họ Bắc Ninh được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại). Nhân vật phát biểu: Yves Defrance, giáo sư, chuyên gia người Pháp về ethnomusicology (dân tộc âm nhạc học), người có nhiều năm nghiên cứu về âm nhạc cổ truyền Việt Nam.
Nội dung ghi chép cốt lõi
Trong văn bản này, khi đánh giá về xu hướng biểu diễn nghệ thuật truyền thống của Việt Nam ra thế giới (bao gồm Quan họ, Ca trù, Chèo...), chuyên gia Pháp đã thẳng thắn chỉ ra sai lầm trong tư duy tiếp cận thị hiếu phương Tây:
• Sự ngộ nhận của phía Việt Nam: Ông nhận định các nhà quản lý và nghệ sĩ Việt Nam đang có xu hướng cách tân, thêm các điệu hòa âm, phối khí hiện đại, vũ đạo hoành tráng vào dân ca vì nghĩ người nước ngoài thích sự sôi động.
• Bản chất nhu cầu người châu Âu: Yves Defrance khẳng định người phương Tây hay người châu Âu sang Việt Nam tìm kiếm cái gọi là "nguyên gốc và trung thực với truyền thống". Họ muốn nghe kỹ thuật hát tự nhiên, mộc mạc và nguyên bản chứ không cần những màu sắc lai căng, làm mới.
• Lời khuyên kinh nghiệm: Ông dẫn chứng các quốc gia có nền văn hóa bảo thủ rất thành công như Nhật Bản, Hàn Quốc hay Trung Quốc. Khi họ mang nghệ thuật sang phương Tây, họ trình diễn đúng chuẩn mực cổ xưa, tôn trọng tuyệt đối tính nguyên bản chứ không hề pha trộn để làm vừa lòng khán giả ngoại quốc.

QUAN HỌ HIẾU    Có ý nghĩa làm khuây khỏa tang chủ, cầu vui để tiễn hồn người đi, mừng người chết bắt đầu cuộc đời mới ...
04/07/2026

QUAN HỌ HIẾU
Có ý nghĩa làm khuây khỏa tang chủ, cầu vui để tiễn hồn người đi, mừng người chết bắt đầu cuộc đời mới tốt đẹp hơn, vì theo quan niệm dân gian, “sống chỉ là gửi”, “thác mới là về”.
Trong đám tang thì quan họ Hiếu chia thành 3 phần :
1. Kể về các chàng trai hiếu thảo trích trong “Nhị thập tứ hiếu”(24 người con hiếu), nhưng động tác diễn xuất..
2. Ca về quá trình làm thuyền…
3. Ca huê tình, giao duyên. Cả 3 phần trên gọi là Quan họ Hiếu.
Trong đám giỗ (gồm cả đám sang cát) thì bọn quan họ ca những câu quan họ mà khi thân chủ còn sống ưa thích. Nhưng đầu tiên là ca nhưng câu theo giọng “Ru già” là những câu quan họ chỉ ca trong đám tang, đám hiếu, cũng có khi bọn quan họ ca những câu giọng “Ai” và giọng “Kể Hạnh”. Sau đây giới thiệu với Đương quan họ một câu quan họ Hiếu theo giọng “Ru già” ạ.

TRỜI ĐẤT MỘT VẦNG
(Giọng : Ru già)
Đối: Gương vỡ lại lành
Ai ơi trời đất một vầng
Âm dương cách biệt quan họ đừng quên nhau
Sự đời để lại vấn vương
Cha già mẹ héo ta thì hỏi thăm
Mẹ (cha) già đầu bạc răng long
Từ nay chẳng ở trên đời với ta
Ngày mai cờ mao sáng tỏ bên đường cái đi
Trời i hì i đất í hi ai ơi a một à vầng ì là / Trời / đất í hi ai ơi a một à vầng // Âm ớ ơ dương á a là dương rồi ra mà như cách biệt mà này cũng có quan họ thì / quan họ thì a chớ quên nhau là í hi i hi hời hi í hi//
Để ớ ơ lại ớ ơ vương a mà vấn vương / trăm sự a à đời là ta biết ớ ơ ai mà à nhớ ơ ai là í hi i hi hời hi í hi //
Đến á a khi a là khi mà cha mẹ héo mà này cũng có a ta thì / ta thì hỏi a thăm là mẹ héo ới cha a già là í hi i hi hời hi í hi //
Để ờ ơ lại ớ ơ vương là vấn vương / mẹ (cha) già à là già đầu a bạc ớ ơ long mà răng long / từ nay a là nay còn như chẳng ờ mà này cũng có a trên đời / quan họ với chúng a ta là í hi i hi hời hi í hi //
Ngày á a mai á a là mai cờ mao sáng tỏ mà này cũng có a bên đường là bên đường là cái a đi là í hi i hi hời hi í hi//
Ghi chú : Câu này chỉ ca trong canh Quan họ hiếu, tiễn biệt người đi về cõi vĩnh hằng.
CỜ MAO : Là cờ dành cho đám ma, nó khác với cờ thần là có một dải nhỏ và dài ở trên đầu nên gọi là cờ mao/.
Quan họ Hiếu được thực hành rõ nhất ở hai làng kết Chạ Lũng Giang và Tam Sơn xưa là một nét đẹp văn hóa, tuy nhiên hình thức này có thể được thực hành diễn xướng mang đậm nết chèo “Chải hê”.

TỪ “QUAN HỌ” CÓ Ý NGHĨA GÌ ?  Từ "Quan họ" là một từ ghép thuần Việt đặc sắc, dù không xuất hiện trong các từ điển cổ nh...
27/06/2026

TỪ “QUAN HỌ” CÓ Ý NGHĨA GÌ ?
Từ "Quan họ" là một từ ghép thuần Việt đặc sắc, dù không xuất hiện trong các từ điển cổ nhưng lại chứa đựng trọn vẹn chiều sâu văn hóa của vùng Kinh Bắc.
Dưới đây là phân tích chi tiết về 5 tầng ý nghĩa của từ "Quan họ":
1. Ý nghĩa lịch sử
• Sự gắn kết dòng họ: Chữ "Họ" chỉ những người cùng huyết thống, gia tộc. Chữ "Quan" gắn liền với hệ thống quản lý hành chính xưa.
• Sự giao thoa giai cấp: Giai thoại phổ biến nhất kể rằng khi các quan lại (bậc đại phu, học sĩ) đi kinh lý qua vùng Kinh Bắc, họ bị lôi cuốn bởi tiếng ca của người dân địa phương. Họ dừng kiệu để lắng nghe và hòa giọng. Từ đó, lối ca này được gọi là "lối ca của nhà quan và các dòng họ dân dã".
• Chứng tích thời gian: Từ này phản ánh giai đoạn lịch sử khi nghệ thuật dân gian bắt đầu được tầng lớp quý tộc công nhận và bảo trợ.
2. Ý nghĩa bác học
• Tính chất hàn lâm: Dù là dân ca do người lao động sáng tạo, Quan họ lại mang tính bác học rất cao trong cấu trúc.
• Kỹ thuật ca (chơi) đỉnh cao: Thể hiện qua hệ thống kỹ thuật nghiêm ngặt gồm "Vang, Rền, Nền, Nẩy". Đây là những quy chuẩn thanh nhạc khắt khe không kém gì âm nhạc cổ điển phương Tây.
• Chơi chữ tinh tế: Từ "Quan" gợi lên sự chuẩn mực, sang trọng, thanh lịch. Nó đối lập nhưng lại hòa hợp với sự mộc mạc của chữ "Họ".
3. Ý nghĩa tình cảm
• Sự gắn kết cộng đồng: "Họ" là nhà, là xóm giếng, là tình làng nghĩa xóm.
• Tình yêu đôi lứa: Chữ "Họ" còn đại diện cho hai nhóm kết chạ (bên Liền anh và bên Liền chị).
• Sự tôn trọng tuyệt đối: Người chơi quan họ luôn gọi nhau là "Liền anh", "Liền chị" xưng "em" và gọi chung là “Đương – Đương quan họ”. Tình cảm trong quan họ không chỉ là tình yêu đôi lứa mà là tình tri kỷ, sự trân trọng và quý mến nhau sâu sắc.
4. Ý nghĩa triết lý
• Triết lý âm dương: Sự kết hợp giữa "Quan" (đại diện cho cái chung, luật lệ, cái uy nghiêm - mang tính Dương) và "Họ" (đại diện cho cái riêng, tình cảm, sự quần tụ - mang tính Âm).
• Triết lý nhân sinh: Thể hiện qua lối sống "mến khách đến độ quên mình". Người Quan họ coi trọng nghĩa tình hơn vật chất, xem việc gặp gỡ và ca hát là cơ duyên lớn trong đời.
5. Ý nghĩa địa danh
• Hồn cốt Kinh Bắc: Từ "Quan họ" là danh từ riêng gắn liền với vùng đất Bắc Ninh - Bắc Giang (xứ Kinh Bắc – Bắc Ninh xưa).
• Không gian văn hóa: Nhắc đến quan họ là nhắc đến không gian của đình làng, chùa cổ, sông Cầu, và các làng quan họ gốc (như làng Diềm, làng Thổ Hà). Địa danh này không chỉ là vị trí địa lý mà là một vùng di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.
Để minh họa cho 5 tầng ý nghĩa độc đáo của từ "Quan họ", có thể sử dụng những câu thơ mộc mạc nhưng đầy tính triết lý và nghệ thuật sau đây:
1. Lịch sử & Bác học: "Bốn phương anh em ta về đây giao kết chạ / Tuy rằng khác họ nhưng lòng vẫn chung một nhà" khẳng định tục kết chạ giữa các làng.
2. Tình cảm: "Người ơi, người ở đừng về / Trầu em têm khay thắm, áo em đượm hương nồng" thể hiện sự mến khách và lưu luyến.
3. Triết lý: "Yêu nhau dẫu mấy núi cũng trèo, mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua" thể hiện sự thủy chung, nghĩa tình.
4. Địa danh: "Đôi bờ sông Cầu nước chảy lơ thơ / Gió đưa cành trúc, dệt thơ mộng mạc làng nghề" gắn liền với không gian Kinh Bắc.
5. Nghệ thuật: "Lúc xa, dạ nhớ không nguôi / Người ơi, người ở đừng về" thể hiện sự gắn kết và nỗi lòng tha thiết.

HÌNH TƯỢNG CÁI "MÂM" TRONG LỜI CA QUAN HỌ  Trong những lời ca Quan họ Bắc Ninh ngọt ngào và đằm thắm, hình ảnh cái mâm x...
22/06/2026

HÌNH TƯỢNG CÁI "MÂM" TRONG LỜI CA QUAN HỌ
Trong những lời ca Quan họ Bắc Ninh ngọt ngào và đằm thắm, hình ảnh cái mâm xuất hiện ở ngay hai câu mở đầu: "Đôi ta như đũa tre ngà / Sánh với bát ngọc, bày ra mâm vàng". Dù chỉ là một chi tiết nằm trong hệ thống ẩn dụ về không gian sinh hoạt, hình ảnh chiếc mâm vàng giữ vai trò cốt lõi biểu trưng cho sự trọn vẹn, môn đăng hộ đối và khát vọng về một hạnh phúc viên mãn, bền vững của tình yêu đôi lứa.

Đôi ta như đũa tre ngà
Sánh với bát ngọc, bày ra mâm vàng
Đôi ta như thiếp với chàng
Gắng công, gắng sức lấp ngàn biển khơi
Đôi ta như chim bồ câu
Đêm ngày quấn quýt bên nhau suốt đời
Đôi ta như trúc với mai
Đêm ngày che nắng, che sương trọn đời...
(Đôi ta như đũa tre ngà – DCQH)
Dưới đây là phân tích chuyên sâu về ý nghĩa nghệ thuật và giá trị văn hóa của hình ảnh chiếc mâm trong đoạn thơ trên:
1. Biểu tượng của sự gắn kết trọn vẹn và không gian sum họp
• Hình khối ước lệ: Chiếc mâm truyền thống của người Việt luôn có hình tròn. Trong tư duy văn hóa Đông Phương, hình tròn đại diện cho trời, cho sự tròn đầy, không có điểm bắt đầu và không có điểm kết thúc.
• Nơi quy tụ hạnh phúc: Mâm là vật dụng chứa đựng, nơi bày biện bữa cơm – không gian thiêng liêng của sự sum họp gia đình. Khi đặt "đũa tre ngà" và "bát ngọc" vào trong "mâm vàng", lời ca không chỉ nói về hai cá thể đơn lẻ mà đang vẽ nên một viễn cảnh gắn kết, một mái ấm gia đình định hình rõ rệt. chiếc mâm chính là cái nền, là không gian nâng đỡ để "đũa" và "bát" tìm thấy vị trí đích thực của mình.
2. Khát vọng về sự tương xứng và "Môn đăng hộ đối"
• Sự nâng tầm giá trị: Tác giả dân gian đã sử dụng nghệ thuật tăng tiến và đối lập rất tài tình qua các chất liệu: Tre ngà (bình dị, dẻo dai) \(\rightarrow \) Bát ngọc (thanh cao, quý phái) \(\rightarrow \) Mâm vàng (sang trọng, đỉnh cao).
• Lời khẳng định về sự xứng đôi: Thành ngữ dân gian có câu "Đũa lệch mâm son" để chỉ sự khập khiễng. Ở đây, "đũa tre ngà" lại đi liền với "bát ngọc" và đặt trên "mâm vàng". Cách phối hợp này xóa nhòa khoảng cách giữa cái mộc mạc (tre) và cái quý tộc (ngọc, vàng). Nó khẳng định tình yêu của "đôi ta" là sự kết hợp hoàn hảo, xứng đáng nhận được những gì cao quý, tốt đẹp nhất. Bản thân tình yêu chân thành đã tự nâng tầm giá trị của hai người lên ngang hàng với "vàng", với "ngọc".
3. Điểm tựa cho những lời thề nguyền bền vững
Chiếc mâm vàng ở câu đầu đóng vai trò mở ra "long mạch" cảm xúc cho toàn bộ các câu ca tiếp theo:
• Chính vì ý thức được sự quý giá, tương xứng của tình yêu ("mâm vàng"), đôi trai gái mới có đủ quyết tâm để "gắng công gắng sức lấp ngàn biển khơi" (mượn điển tích dã tràng/tinh vệ để nói về ý chí vượt qua nghịch cảnh).
• Chiếc mâm tròn đầy vững chãi ấy là tiền đề cho một cuộc sống "quấn quýt bên nhau suốt đời" như chim bồ câu và "che nắng, che sương trọn đời" như hình ảnh trúc với mai.
4. Vẻ đẹp của tâm hồn và tư duy thẩm mỹ người Quan họ
• Ước vọng lãng mạn hóa đời thường: Người lao động Kinh Bắc xưa vốn có cuộc sống gắn liền với ruộng đồng, luỹ tre. Tuy nhiên, khi đưa vào lời ca, họ đã "mỹ lệ hóa" những vật dụng quen thuộc nhất (đũa, bát, mâm) bằng sắc màu của cung đình, báu vật (ngà, ngọc, vàng).
• Sự tinh tế trong ứng xử: Hình ảnh cái mâm vàng cho thấy người Quan họ không hề tự ti về nguồn gốc chân lấm tay bùn của mình. Họ kiêu hãnh về phẩm giá, về tình yêu trong sáng và đặt tình yêu đó ở vị trí trang trọng nhất.
Tóm lại:
Hình ảnh chiếc mâm trong lời ca Quan họ không đơn thuần là một vật dụng, mà là biểu tượng nghệ thuật kết tinh khát vọng sống, khát vọng yêu của người con trai, con gái giao duyên. Nó biến một tình yêu bình dị trở nên thiêng liêng, biến những ước mơ hạnh phúc lứa đôi thành một bức tranh nghệ thuật lộng lẫy, bền vững bất chấp thời gian và giông bão cuộc đời.

Address

Làng Thổ Hà
Bac Ninh
230000

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Thư Viện Điện Tử Quan Họ Thổ Hà posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Shortcuts

Share

Category