Nhà Hàng Hoàng Hảo - KDL Côn Sơn Kiếp Bạc

Nhà Hàng Hoàng Hảo - KDL Côn Sơn Kiếp Bạc Since 1995

12/07/2025

Quần thể di tích, danh thắng Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc đã chính thức được ghi danh là Di sản thế giới!!!

🫆 QUẦN THỂ DI TÍCH VÀ DANH THẮNG YÊN TỬ – VĨNH NGHIÊM – CÔN SƠN, KIẾP BẠC ĐƯỢC ĐỀ CỬ DI SẢN THẾ GIỚI🇻🇳 Việt Nam chính th...
10/07/2025

🫆 QUẦN THỂ DI TÍCH VÀ DANH THẮNG YÊN TỬ – VĨNH NGHIÊM – CÔN SƠN, KIẾP BẠC ĐƯỢC ĐỀ CỬ DI SẢN THẾ GIỚI

🇻🇳 Việt Nam chính thức đề cử quần thể di tích và danh thắng Yên Tử – Vĩnh Nghiêm – Côn Sơn, Kiếp Bạc vào Danh mục Di sản Thế giới tại kỳ họp lần thứ 47 của Ủy ban Di sản Thế giới UNESCO, diễn ra từ ngày 7 đến 16/7/2025 tại Paris, Pháp, với sự tham dự của 195 quốc gia thành viên.

📜 Hồ sơ đề cử tập trung làm nổi bật hệ tư tưởng thiền phái Trúc Lâm – dòng Phật giáo thuần Việt do Phật hoàng Trần Nhân Tông sáng lập từ thế kỷ XIII, có vai trò gắn kết nhiều địa điểm, sự kiện và nhân vật lịch sử.

📅 Hồ sơ được Việt Nam khởi động từ năm 2012, trải qua 13 năm phối hợp chặt chẽ với ICOMOS – tổ chức tư vấn chuyên môn của UNESCO. Trong quá trình khảo sát và thẩm định, ít nhất ba đoàn chuyên gia quốc tế đã làm việc tại các địa phương Quảng Ninh, Hải Phòng (tỉnh Hải Dương cũ) và Bắc Ninh (tỉnh Bắc Giang cũ) – nơi tọa lạc của quần thể di sản.

📐 Theo hồ sơ, tổng diện tích vùng lõi của quần thể là 525,75 ha, vùng đệm rộng 4.380,19 ha. Vùng lõi gồm 12 di tích chính phản ánh đầy đủ quá trình hình thành, phát triển và phục hưng của thiền phái Trúc Lâm. Vùng đệm đóng vai trò bảo vệ cảnh quan văn hóa, đảm bảo tính toàn vẹn và kết nối của quần thể, được quản lý nghiêm ngặt theo Luật Di sản văn hóa và Luật Lâm nghiệp.

🔰 12 di tích chính trong quần thể gồm:

1. Chùa Yên Tử (Hoa Yên), Quảng Ninh: Trung tâm tu hành của Phật hoàng Trần Nhân Tông, nơi hình thành thiền phái Trúc Lâm.

2. Am Ngọa Vân, Quảng Ninh: Nơi Phật hoàng nhập diệt, thánh địa thiêng liêng của Trúc Lâm.

3. Thái Miếu, Quảng Ninh: Các điểm thiền định cổ, tiêu biểu cho thực hành tu tập giữa rừng thiêng.

4. Bãi cọc Bạch Đằng (Yên Giang), Quảng Ninh: Di tích lịch sử vật thể phản ánh tư tưởng nhập thế, tinh thần bảo vệ độc lập dân tộc.

5. Chùa Lân (Long Động), Quảng Ninh: Trung tâm giảng pháp, đào tạo tăng tài của Trúc Lâm.

6. Chùa Côn Sơn, Hải Dương cũ: Nơi tu hành của Tam tổ Huyền Quang, trung tâm phát triển tư tưởng nhập thế.

7. Đền Kiếp Bạc, Hải Dương cũ: Gắn với Trần Hưng Đạo – biểu tượng của tinh thần hộ quốc an dân kết hợp Phật giáo Trúc Lâm.

8. Chùa Thanh Mai, Hải Dương cũ: Gắn với cuộc đời Thiền sư Pháp Loa – vị tổ thứ hai của Trúc Lâm.

9. Động Kính Chủ, Hải Dương cũ: Được mệnh danh là "Nam thiên đệ lục động" – động đẹp thứ sáu của Việt Nam.

10. Chùa Nhẫm Dương, Hải Dương cũ: Nơi tu hành của Hòa thượng Thủy Nguyệt, pháp hiệu Thông Giác Đạo Nam.

11. Chùa Bổ Đà, Bắc Giang cũ: Trung tâm tu tập nổi bật với thư tịch cổ và vườn tháp độc đáo.

12. Chùa Vĩnh Nghiêm (Đức La), Bắc Giang cũ: Trung tâm in khắc và lưu giữ hơn 3.000 mộc bản kinh Trúc Lâm, được UNESCO công nhận là Di sản Tư liệu Thế giới.

📌 Trong quá trình thẩm định, ICOMOS yêu cầu chứng minh giá trị nổi bật toàn cầu của quần thể. Việt Nam khẳng định: Thiền phái Trúc Lâm là hệ tư tưởng độc đáo, kết hợp tinh hoa của Phật giáo Đại thừa, Nho giáo, Đạo giáo và tín ngưỡng dân gian Việt Nam, thể hiện sâu sắc sự hòa quyện giữa đạo và đời.

🧘‍♂️ Đây cũng là tông phái Phật giáo duy nhất trên thế giới được sáng lập bởi một vị vua – Phật hoàng Trần Nhân Tông – người đã thoái vị để tu hành, từ bỏ ngai vàng để phụng sự chúng sinh và định hình tư tưởng “nhập thế” đặc trưng của Phật giáo Việt Nam.

🌐 Mặc dù ban đầu ICOMOS lo ngại hồ sơ rời rạc, Việt Nam đã chứng minh các thành phần di sản đều xoay quanh một trục nội dung cốt lõi: sự hình thành, lan tỏa và phát triển của Phật giáo Trúc Lâm – từ Yên Tử, truyền qua Vĩnh Nghiêm, phát triển rực rỡ tại Côn Sơn – Kiếp Bạc.

🌿 Giá trị văn hóa đặc sắc của Trúc Lâm còn được khẳng định qua hệ thống chùa chiền, am tháp, tuyến hành hương, mộc bản, bia đá được quy hoạch hài hòa trong cảnh quan thiên nhiên linh thiêng. Triết lý “vô ngã” và “nhập thế” tạo nên bản sắc riêng biệt cho Phật giáo Việt Nam, khác biệt so với nhiều tông phái khác trong khu vực.

🎊 Các lễ hội truyền thống như Hội xuân Yên Tử, Lễ hội Côn Sơn – Kiếp Bạc vẫn được tổ chức hàng năm, góp phần duy trì mạch sống tâm linh của dân tộc, kết nối quá khứ – hiện tại – tương lai.

📍Việc đề cử quần thể Yên Tử – Vĩnh Nghiêm – Côn Sơn Kiếp Bạc không chỉ là nỗ lực bảo tồn di sản mà còn là cơ hội để quảng bá giá trị tinh thần, lịch sử, văn hóa của dân tộc Việt Nam ra thế giới.
-------


☎️0376
Địa chỉ: Trạm sạc Vinfast Côn Sơn, QL37 đường Trần Nguyên Đán, phường Trần Hưng Đạo, tp Hải Phòng
(Địa chỉ cũ: Trạm sạc Vinfast Côn Sơn, QL37 đường Trần Nguyên Đán, phường Cộng Hoà, tp Chí Linh, tỉnh Hải Dương)

Xứ Đông lại về 1 nhà🏛️ DI SẢN HỘI TỤ: CÔN SƠN, KIẾP BẠC, THANH MAI, CẨM GIÀNG, KINH MÔNTrên vùng đất địa linh nhân kiệt ...
02/07/2025

Xứ Đông lại về 1 nhà

🏛️ DI SẢN HỘI TỤ: CÔN SƠN, KIẾP BẠC, THANH MAI, CẨM GIÀNG, KINH MÔN

Trên vùng đất địa linh nhân kiệt xứ Đông xư, Hải Dương – Hải Phòng ngày nay, nhiều quần thể di tích quốc gia đặc biệt và cấp quốc gia đã tạo thành một bản đồ di sản phong phú, kết nối văn hóa – tâm linh – giáo dục – lịch sử từ ngàn xưa tới nay. Ban Quản lý Di tích Côn Sơn – Kiếp Bạc hiện là đơn vị chủ lực trong công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị hệ thống di tích trọng điểm của khu vực.

🌸 Côn Sơn – Kiếp Bạc – Thanh Mai

Đây là ba quần thể tạo thành “trục linh thiêng” của miền đất Đông Bắc:

+ Khu Di tích Lịch sử Danh thắng Côn Sơn: Nơi gắn liền với danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Trãi và thiền sư Huyền Quang với các di tích nổi bật gồm: chùa Côn Sơn, đền thờ Nguyễn Trãi, đền Thanh Hư, Bàn Cờ Tiên, Ngũ Nhạc linh từ.

+ Khu Di tích Lịch sử Văn hóa Kiếp Bạc: Gắn với sự nghiệp lẫy lừng của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn và các vị anh hùng nhà Trần. Ngoài đền Kiếp Bạc, cụm di tích còn có đền – chùa Nam Tào, Bắc Đẩu mang ý nghĩa tâm linh sâu sắc.

+ Chùa Thanh Mai: Một trung tâm Phật giáo quan trọng thuộc thiền phái Trúc Lâm, nằm giữa rừng nguyên sinh thanh tĩnh, là nơi tu hành của thiền sư Pháp Loa, mang dấu ấn tĩnh lặng và huyền nhiệm của văn hóa thiền tông Đại Việt.

📚 Cẩm Giàng – Vùng đất hiền tài, y học và nho học

Cẩm Giàng sở hữu nhiều di tích đặc biệt, phản ánh chiều sâu văn hóa và khoa học của dân tộc:

+ Văn miếu Mao Điền: Được mệnh danh là “Quốc Tử Giám” của xứ Đông, nơi tôn vinh các bậc hiền tài và truyền thống hiếu học.

+ Chùa Giám, đền Bia, đền Xưa: Gắn với y tổ Tuệ Tĩnh – người đặt nền móng cho nền y học cổ truyền Việt Nam, là điểm đến linh thiêng và mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc.

🏞️ Kinh Môn – Vùng di sản thời tiền sử và thiền phái Tào Động

Kinh Môn là nơi kết tinh văn hóa từ tiền sử đến trung đại, với những di tích đặc sắc, tiêu biểu:

+,Đền Cao An Phụ: Nơi thờ An Sinh vương Trần Liễu – thân phụ Hưng Đạo Đại vương, tọa lạc trên núi cao, linh thiêng và hùng vĩ.

+ Chùa Nhẫm Dương: Một trong những trung tâm của thiền phái Tào Động, có kiến trúc độc đáo và phong cảnh hữu tình.

+ Động Kính Chủ: Một thắng cảnh thiên nhiên kỳ thú, được mệnh danh là “đệ nhất động” xứ Đông, là nơi in đậm dấu ấn của người xưa qua hệ thống văn bia và chạm khắc đá quý hiếm.

Với sự đa dạng và chiều sâu về giá trị văn hóa, lịch sử, tôn giáo, hệ thống di tích hiện nay do do Ban Quản lý Di tích Côn Sơn – Kiếp Bạc quản lý không chỉ là niềm tự hào của địa phương mà còn là tài sản vô giá của quốc gia. Việc gìn giữ, tôn tạo và phát huy những di sản này chính là trách nhiệm thiêng liêng và cao cả của mỗi người con xứ Đông hôm nay.

,

☎️ 0376393568
Địa chỉ: Vinfast Côn Sơn, QL37 đường Trần Nguyên Hãn, phường Trần Hưng Đạo, tp Hải Phòng
(Đối diện lối vào chùa Côn Sơn)

Suối Côn Sơn mấy ngày nay đẹp và thơ mộng quá.
02/07/2025

Suối Côn Sơn mấy ngày nay đẹp và thơ mộng quá.

Các phường mới của tp Hải Phòng
13/06/2025

Các phường mới của tp Hải Phòng

Ngày lịch sử
12/06/2025

Ngày lịch sử

CHUYỆN TÌNH CỦA ĐIỆN SUÝ TƯỚNG QUÂN PHẠM NGŨ LÃO VÀ ANH NGUYÊN QUẬN CHÚANGUỒN: báo văn nghệ hải dươngMột trong hai người...
03/06/2025

CHUYỆN TÌNH CỦA ĐIỆN SUÝ TƯỚNG QUÂN PHẠM NGŨ LÃO VÀ ANH NGUYÊN QUẬN CHÚA

NGUỒN: báo văn nghệ hải dương

Một trong hai người con gái của Hưng Đạo Vương là Anh Nguyên Công chúa (Quận chúa). Có sách nói bà là con nuôi, nhưng lại có sách nói bà là con đẻ, được Vương giáng làm con nuôi để gả cho vị tướng quân yêu quý, đó là Phạm Ngũ Lão (vì nhà Trần quy định chỉ kết hôn trong dòng tộc). Chuyện tình của đôi uyên ương này, như là sự sắp đặt duyên trời và là một bản tình ca đẹp, lưu truyền từ xưa cho tới bây giờ.
Nói về hai người con gái của Hưng Đạo Vương là Trinh Công chúa và Nguyên Công chúa, khi 15, 16 tuổi, cả hai đều cùng nhan sắc, mắt phượng, mày ngài, tóc mây, da tuyết, miệng cười tươi hơn hoa nở, mắt nhìn sáng tựa sóng thu, có dáng nghiêng nước đổ thành, nhạn sa cá lặn… Từ nhỏ hai chị em vẫn ở riêng một lầu, học hành, thêu dệt…

Tương truyền, một hôm hai chị em nhân lúc vui thú, rủ nhau xuống lầu ra vườn hoa sau nhà thưởng trăng. Bỗng thấy một đám mây ngũ sắc tỏa ra bốn bề rồi kết lại thành một, từ từ hạ xuống vườn hoa. Văng vẳng trên không trung có tiếng đàn sáo, lại thoang thoảng hương thơm. Hai chị em lấy làm lạ, ngẩng mặt lên thì đám mây tà tà tới gần, rồi thấy một vị Tiên mẫu hiện ra nói rằng: “Hai con chớ ngại, ta là Tây Vương mẫu xuống trần có việc đây”.

Hai nàng vái lạy và tâu rằng: “Chẳng hay Tiên mẫu xuống có việc gì, chúng con phàm trần, xin Tiên mẫu thứ tội cho”.

Tiên mẫu nói: “Mẹ phụng mệnh Ngọc Hoàng đem thanh gươm báu này xuống cho cha các con. Đây là thanh “Phi Thiên Thần Kiếm” mai sau sẽ giúp cha các con diệt được giặc có yêu thuật, giúp cho Đại Việt vẹn toàn”.

Hai nàng quỳ lạy và xin Tiên mẫu dạy bảo cho vài điều. Tiên mẫu nói: “Hai con khi xưa cũng là đồ đệ của mẹ, cho nên mẹ mới xuống thăm nhân thể. Cha các con cũng là Thanh tiên giáng thế mới được ban gươm báu này đấy”.

“Lạy mẹ! Vậy mẹ dạy cho ít phép để chúng con có thể giúp thêm được phụ thân chăng.” – Hai nàng cầu.

Tiên mẫu cười mà rằng: “Cha con có tài trí, không cần gì phải phép. Duy khi nào gặp giặc dùng yêu thuật, thì chỉ dùng thanh kiếm này là phá được”.

Tiên mẫu cũng dặn riêng hai nàng rằng: “Với hai con, mai sau một con có duyên với đương triều hoàng đế, làm đến hoàng hậu. Một con lấy được chồng anh hùng xứng đáng, không phải học đến phép thuật làm gì”.

Nói đoạn, trời nổi cơn gió mát, mây bốc lên không trung. Hai công chúa trông theo vái lạy, rồi thấy đám mây biến mất…

Chuyện về thanh gươm báu diệt giặc Phạm Nhan xin viết vào dịp khác. Nay, chỉ xin kể về chuyện tình của người em là Anh Nguyên Công chúa, để xem lời Tiên mẫu đã dặn có đúng!

Nói về Phạm Ngũ Lão (Chữ Hán: 范五老V 1255-1320, người làng Phù Ủng, huyện Đường Hào, Hải Dương. Nay là làng Phù Ủng, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên). Ông là danh tướng nhà Trần, người góp công rất lớn trong đánh giặc giữ nước, nhất là hai cuộc kháng chiến chống Mông – Nguyên lần thứ hai năm 1285 và lần thứ ba năm 1288. Một vị gia tướng tài giỏi, nhất mực thân tín, trung thành của Hưng Đạo Vương, được Ngài đặc biệt tin cậy… Chuyện về chàng đan sọt Làng Phù Ủng tự tiến thân gia nhập đội quân triều đình thế nào cùng những chiến công của ông ra sao, chắc chắn ai cũng đã được nghe kể. Nhưng chuyện tình của ông với nàng công chúa yêu của Quốc công Tiết chế Trần Hưng Đạo thì có lẽ ít người đã biết.

Trở lại với hai con gái của Hưng Đạo Vương. Chuyện kể rằng, từ khi Trinh công chúa vào cung, rồi được tấn phong Hoàng hậu (đúng như lời của Tiên mẫu ngày nào). Còn Anh Nguyên Công chúa một mình ở nhà phụng dưỡng mẹ là Nguyên từ Quốc mẫu phu nhân của Hưng Đạo Vương. Nàng thường nghe vương phụ khen, trong các gia tướng có Phạm Ngũ Lão văn võ toàn tài, anh hùng cái thế hơn cả. Nghe lỏm thì biết vậy, nhưng chưa rõ Ngũ Lão là người thế nào. Một hôm, Hưng Đạo Vương có việc, vội cho đòi Phạm Ngũ Lão vào hầu. Lúc chàng tới, công chúa cố ý ở nhà trong liếc mắt ra, thấy người tướng mạo khôi ngô, oai phong lẫm liệt, từ đấy đem lòng tơ tưởng.

Còn về Phạm Ngũ Lão ra vào vương phủ, thỉnh thoảng thấy bóng hồng thấp thoáng trong vườn, trạc ngoài đôi tám, mắt phượng, mày ngài, mặt hoa, da tuyết, hỏi ra thì là con gái Hưng Đạo Vương. Từ đấy, Ngũ Lão cũng ngày ngẩn đêm mơ, lúc nào cũng nhớ tới dáng hình công chúa. Lạ thay! Trai tài gái sắc, hễ nghe tiếng nhau, hễ gặp mặt nhau là sinh lòng quyến ái, nhưng hai bên chưa biết bụng nhau, không dám ngỏ lời, chỉ băn khoăn tình riêng trong dạ mà yêu trộm nhớ thầm.

Rồi đến khi Phạm Ngũ Lão theo quân đi đánh giặc. Công chúa thì theo phu nhân lánh một nơi, chỉ có năm sáu ả hoàn cùng hai tướng tâm phúc theo hầu.

Công chúa thấy loạn ly thì buồn bã, sực nghĩ đến mối tình, lại nhớ lời Tiên mẫu dặn, thường đêm khuya trằn trọc, thở ngắn than dài, chả biết nhân duyên của mình có được như nguyện ý. Huống hồ chinh chiến liên miên, những người anh hùng xuất thân báo quốc, biết đâu sinh tử đường nào, nếu rủi ra mà phải người anh hùng tri kỷ thì sơ tâm ao ước, chả hóa ra ảo mộng hư vô… Công chúa càng nghĩ càng lo rồi càng buồn. Vả lại xưa nay là người khuê các, giờ phải trèo non lội suối, trải gió dầm mưa, thân bồ liễu chịu sao được phong sương, thế là dần dần phải bệnh, mặt hoa ủ dột, mình ngọc hao gầy.

Phu nhân vốn rất yêu công chúa. Nay đang lúc buồn vì giặc giã, lại thấy con ốm yếu nên rất bồn chồn, ngày đêm phiền não. Còn các ả hoàn hết thảy đều khuyên giải và chạy thuốc men cho nàng, nhưng bệnh thể mỗi ngày một nặng. Phu nhân hỏi han thì công chúa chỉ thở dài chẳng nói một lời.

Trong số ả hoàn có Phương Cúc sắc sảo, tinh nhanh, nghe tiếng công chúa trằn trọc, đồ là công chúa có chung tình. Nay lại thấy mỗi ngày càng mòn mỏi, thuốc chữa không bớt, biết bệnh ấy hẳn là bệnh tương tư mới đem nói với phu nhân là vậy. Phu nhân cũng trong lòng nghi ngờ, nhân lúc thanh vắng hỏi nhỏ công chúa:

“Con ơi! Bệnh con bởi tự đâu, con nói cho mẹ nghe nào?”.

Công chúa chẳng nói gì, chỉ ứa hai hàng nước mắt. Phu nhân lại nói:

“Con ơi! Từ khi chị vào cung, mẹ chỉ còn mình con vui cùng. Bây giờ cha cùng các anh phải đi dẹp giặc, cả hai mẹ con phải lặn lội thế này, nghĩ chua xót trong lòng, nay con lại đau ốm thì cực lòng mẹ lắm.” – Nói đoạn phu nhân khóc ròng, sa nước mắt.

Công chúa thấy mẹ buồn rầu, cũng khóc nấc lên, rồi nói tảng ra rằng:

“Mẹ ơi ! Chắc con xưa nay không đi xa bao giờ mà phải dầm mưa dãi nắng, cho nên thành bệnh đấy thôi ạ”.

Phu nhân lại dỗ:

“Nếu phải cảm phong sương thì thuốc chữa phải bớt, nay bệnh mãi không khỏi, tất có duyên cớ sao đây. Con phải nói cho mẹ biết, để liệu phương kế chữa cho con. Nếu con không nói ra mà tích mãi trong lòng, mỗi ngày một héo hắt đi thì mẹ biết làm sao đây”.

Công chúa trước còn nhất định không nói, sau phu nhân gặng hỏi mãi mới khóc và nói rằng:

“Mẹ đã đoán được bệnh căn, thì con cũng chẳng dám giấu gì mẹ. Tự khi xưa chơi ở vườn hoa, chị em con có gặp Tiên mẫu dặn, duyên con về sau sánh với anh hùng. Nhưng con ở thâm khuê, thì biết anh hùng là ai. Duy thường nghe vương phụ khen tài Ngũ Lão, con thiết tưởng như người ấy với con mới thật là đẹp duyên phải lứa. Không ngờ, giặc giã xâm lăng, hai mẹ con phải lánh mình nơi khe suối, chàng cũng phải xông pha chiến trường, đã chắc gì được thành nhân duyên về sau. Con nghĩ phận con, đã uổng sinh ra đời này, nên con thương tâm mà thành bệnh. Lạy mẹ đã thương, nhưng con nghĩ có khi chẳng thể sống mà báo đáp ơn cha mẹ được”.

Phu nhân nghe xong thì tủm tỉm cười, nói rằng:

“Mẹ tưởng là con bệnh não thế nào, chứ việc ấy thì can gì mà ngại. Tiên đã dạy thì chắc là phải nghiệm. Vả lại, Phạm Ngũ Lão trí dũng song toàn, dù trải nghiệm mấy trăm chiến trận, cũng sẽ không việc gì. Con đã có tình như thế, để sau này mẹ sẽ nói chuyện với cha, can gì con phải lo lắng mà thành bệnh như thế”.

Công chúa được lời của phu nhân khuyên giải, lại có các ả hoàn dỗ dành, chăm chút thuốc thang, dần dần tỉnh táo.

Được vài ba hôm, công chúa đang lúc canh khuya tơ tưởng, sực nghe ngoài cửa có tiếng ngựa chạy xồng xộc. Công chúa mở cửa ra xem thì thấy bóng trăng sáng như ban ngày. Một tướng tế ngựa chạy đến, mình mẩy máu me đầm đìa, trông ra chính là Ngũ Lão. Mé sau lại thấy một lũ giặc Mông – Nguyên đuổi tới, cung nỏ, gươm giáo đùng đùng. Ngũ Lão thét lên một tiếng cực dữ. Công chúa giật mình tỉnh dậy, thì ra là chiêm bao.

Công chúa một mình ngẫm nghĩ và đồ rằng, Ngũ Lão tất bị giặc hại rồi, thế là khóc ầm lên. Cả nhà kinh động thức dậy. Do công chúa còn yếu, hoảng sợ, nên khóc một lúc rồi ngất lịm. Phu nhân kinh hãi, không biết căn cứ làm sao, sờ vào công chúa thấy người đã lạnh cả chân tay, mới sai đám ả hoàn xúm xít vào gọi. Kẻ giật tóc mai, người nắm ngón tay, gọi dồn một hồi công chúa mới tỉnh. Phu nhân sai đốt lá sơn và dùng các thứ thuốc xoa bóp.

Thấy con tỉnh, phu nhân lo lắng hỏi: “Khi nãy con làm sao vậy, bỗng dưng lại khóc rồi ngất đi như thế?”.

Công chúa vẫn nức nở không nói. Phu nhân bảo các ả hoàn ra ngoài rồi lại hỏi hai, ba lần. Bấy giờ công chúa mới kể lại giấc mộng và nói: “Mẹ ơi! Cứ như con mộng thấy, thì phải chăng chàng Phạm đã bị phải tay giặc rồi”.

Phu nhân lại khuyên giải: “Xưa nay chuyện mộng mị huyền hoặc, chắc gì là đúng, vả lại chắc do con nhớ lắm nên thành mộng đó thôi. Con cứ yên tâm, Ngũ Lão không sao đâu, mai sau chắc con sánh được người ấy”.

Công chúa từ bấy giờ lại tỉnh táo và dần ăn uống được. Mấy ngày sau thì nghe tin Hưng Đạo Vương đã dẹp xong giặc, sắp sửa rước xa giá hoàn cung. Các tướng tá trọn vẹn không khuyết người nào... Cả nhà được tin mừng rỡ vô cùng. Phu nhân cho người đưa tin về nói với Hưng Đạo Vương, rồi thu xếp sắp sửa về dinh.

Hưng Đạo Vương được tin, sai ngay Phạm Ngũ Lão đem một đội quân đến tận nơi ngụ sở đón phu nhân cùng công chúa về.

Ngũ Lão đến nơi, vào lạy phu nhân, trình lời Hưng Đạo Vương. Phu nhân trông thấy Ngũ Lão thì cả mừng. Công chúa thì thẹn thò nép sau bình phong. Các ả hoàn và hai tướng tâm phúc ai nấy bưng mồm cười khúc khích, phu nhân phải đưa mắt mới thôi.

Phạm Ngũ Lão ngạc nhiên, không biết tình ý làm sao mà họ thấy mình lại cười, bèn lui ra ngoài hỏi chuyện hai tướng, mới hay sự tình công chúa tương tư. Ngũ Lão thẹn đỏ cả mặt. Từ bấy giờ chàng mới hay Nguyên công chúa cũng có tình ý riêng giống mình và cảm bụng chung tình của nàng, nhưng trong lòng vẫn thấp thỏm, chỉ sợ Hưng Đạo Vương không thuận.

Hôm sau, phu nhân lên đường hồi dinh. Ngũ Lão rước phu nhân lên song loan. Công chúa thì ngồi một xe riêng, có dáng thẹn thò. Ngũ Lão thỉnh thoảng nhìn trộm sau xe, ruột nóng như lửa chất, mong sớm về đến dinh để xem ý Hưng Đạo Vương ra sao.

Về tới dinh, Hưng Đạo Vương ra cửa đón phu nhân vào. Bốn vị vương tử cũng ra nghênh đón. Vợ chồng, con cái, trông thấy nhau hoan hoan hỉ hỉ, cùng vào dinh. Công chúa lạy mừng phụ thân, anh em hỏi han vồn vã. Vương sai mở tiệc tẩy trần. Cả nhà đoàn viên vui vẻ. Các tướng bộ hạ cũng được dự tiệc.

Phu nhân thừa nhàn nói với Vương rằng: “Trai khôn dựng vợ, gái lớn gả chồng, con em nay đã tới tuần cập kê, tướng công nên tìm một người xứng đáng mà gả chồng cho nó”.

Hưng Đạo Vương gật đầu. Phu nhân lại nói: “Thiếp nghe Phạm Ngũ Lão anh hùng xuất chúng và lại đang trạc tuổi nên duyên, vừa đôi phải lứa với con chúng ta, ý tướng công thế nào?”.

Vương nghe nói chính hợp với mình, mới nói rằng: “Nàng nói phải! Vậy để ta liệu xem”.

Ngũ Lão từ khi đưa phu nhân về đến dinh, chờ chực nghe ngóng hơn nửa tháng trời, không thấy tin tức gì, nóng lòng nóng ruột, nghĩ ngợi thâu đêm đến sáng, ngày này qua ngày khác. Không biết vì cớ làm sao, hay mấy tướng nói chơi, hoặc Hưng Đạo Vương sẽ kén cửa công hầu, không thèm mình chăng? Nghĩ vơ nghĩ vẩn, lúc nào cũng thẫn thờ. Một hôm, bỗng thấy lính hầu tới đòi vào gặp Hưng Đạo Vương. Ngũ Lão mừng thầm, chắc hẳn là việc nhân duyên đây! Vội vàng chỉnh tề khăn áo đi vào. Đến nơi thì thấy có Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật ngồi chơi. Vương cũng chỉ nói những chuyện đâu đâu, không có câu nào nói động đến chuyện ấy. Một lát, Chiêu Văn Vương trở về, Vương cũng lùi vào nhà trong nghỉ. Ngũ Lão buồn rầu biết ngần nào, lại phải lủi thủi trở ra. Chân đi lững thững, thỉnh thoảng ngoảnh cổ nhìn vào nhà trong xem công chúa có ý tứ gì không, nhưng cửa sâu nhà rộng, nhìn vào chẳng thấy.

Ngũ Lão ấm ức lắm vì không rõ chuyện ra làm sao. Sáng hôm sau, chàng lại vào hầu thật sớm và có ý muốn trông mặt công chúa một chút. Đến nơi, Vương vẫn còn ngủ. Ngũ Lão chờ chực hồi lâu không thấy ngài thức dậy, dạo ra sau vườn hoa, giả tiếng xem phong cảnh, nhác trông thấy bóng hồng thấp thoáng dưới lầu. Ngũ Lão nhìn vào thì mỹ nhân đã bước lên lầu, khuất người không trông thấy gì nữa. Chàng ruột gan bấy giờ như xé, đứng ngây ra như phải thuốc mê. Một lát thấy Hưng Đạo Vương thức dậy ra ngồi chơi ngoài cung đường. Ngũ Lão vội vàng trở vào ra mắt.

Hưng Đạo Vương hỏi: “Nhà ngươi đến đây có việc gì sớm vậy?”.

Ngũ Lão: “Bẩm, con nhân ngồi nhàn nên vào hầu Đại vương ạ”.

Vương cho ngồi bên dưới, sai rót nước uống, rồi lại nhàn đàm một lúc, cũng chẳng nói động gì đến việc nhân duyên. Ngũ Lão tuy vâng vâng dạ dạ, nhưng trong bụng vô cùng chán nản, một lúc lại từ tạ trở ra.

Phạm Ngũ Lão về đến nhà, lẩn thẩn ngồi nghĩ một mình, chắc là mỹ nhân không có ý gì với mình, cho nên không thèm nhìn đến. Mà Hưng Đạo Vương chắc cũng quyết là không thèm gả con cho một đứa đầy tớ. Thôi thì cũng yên phận, quạ chẳng dám sánh với phượng hoàng, đừng nên mong tưởng lắm cho mệt sức. Từ bấy giờ sự háo hức nguội dần. Chàng cũng tự nhủ, miễn là chờ lập được công danh, thiên hạ không thiếu gì mỹ nhân, tài nữ.

Cách nửa tháng nữa, bỗng lại thấy Hưng Đạo Vương cho đòi vào dinh. Ngũ Lão bấy giờ không còn mơ tưởng gì nữa nên thấy đòi thì vào, không hào hứng cho lắm. Đến nơi, chào lạy xong, Vương cho ngồi, sai pha nước uống.

Hưng Đạo Vương nói chuyện đâu đâu một vài câu, rồi bỗng hỏi rằng: “Chẳng hay nhà ngươi ở nhà đã kết duyên Tần Tấn với đâu chưa?”.

Nghe Vương hỏi vậy, mặc dù lửa tình như đã tắt bấy lâu, nay bỗng dưng lại bùng lên mạnh mẽ. Chàng như được uống thuốc cải tử hoàn sinh!

Ngũ Lão bấy giờ biết Ngài có ý đến mình, nửa mừng nửa thẹn, thưa rằng: “Dạ bẩm Đại vương, con chưa có ạ”.

Hưng Đạo Vương cũng rất mừng rỡ rồi bảo rằng: “Ta thấy nhà ngươi có tài kiêm văn võ, nên rất quý mến. Vậy ta còn một công chúa, muốn cho kết duyên cầm sắt với nhà ngươi, không biết ý ngươi thế nào?”.

Phạm Ngũ Lão mừng rỡ lạy tạ: “Bẩm, Đại vương có bụng thương yêu như thế, con biết lấy gì báo đáp hậu ơn cho được!”.

Hưng Đạo Vương mừng lắm, liền sai kén ngày làm lễ thành hôn. Đến ngày cưới, Vương mở tiệc mừng, mời cả vương hầu đến ăn yến. Phạm Ngũ Lão và Anh Nguyên công chúa, hai vợ chồng thành hôn, trai tài gái sắc, vui vẻ biết ngần nào!

Hưng Đạo Vương lập riêng một dinh cho hai con ở. Phạm Ngũ Lão tạ ơn Vương nhiều lắm. Từ bây giờ, loan hoàng đẹp lứa, cá nước ưa duyên, cầm sắt hòa vui, trăm năm phỉ nguyện. Vì thế, có thơ rằng:

Bởi phượng đã hài duyên thục nữ.

Cưỡi rồng nay phỉ nguyện anh hùng.

Về cuộc đời của Phạm Ngũ Lão, khi mới được vào kinh, Hưng Đạo Vương đã tiến cử lên triều đình và được giao cai quản Cấm vệ quân. Năm 1290, vua Nhân Tông giao cai quản quân Thánh Dực, phong chức Hữu Kim ngô Đại tướng quân. Năm 1294 được ban Kim Phù (Binh phù vàng) và năm 1297 được ban Vân Phù (Binh phù có khắc chạm hình mây) đều do lập công lớn khi đánh trận ở Ai Lao. Năm 1301, ông tiếp tục được phong Thân Vệ Đại tướng quân và được ban Quy Phù (Binh phù có chạm hình rùa). Đến đời vua Anh Tông, ông được thăng tới chức Điện súy Thượng tướng quân, tước Quan nội hầu… Một người con gái của ông bà, hiệu là Tĩnh Huệ được cất làm Thứ phi của vua Anh Tông.

Không chỉ có tài về quân sự, Phạm Ngũ Lão còn sáng tác thơ về chí trai, lòng yêu nước. Tiếc là hiện nay tác phẩm của ông chỉ còn lại hai bài là Thuật Hoài (Tỏ lòng), theo thể thất ngôn tứ tuyệt và Vãn Thượng tướng quốc công Hưng Đạo Đại Vương (Viếng Thượng tướng quốc công Hưng Đạo Đại Vương - Có sách nói bài này của Bùi Tông Phan), theo thể thất ngôn bát cú.

述懷

橫槊江山恰幾秋

三軍貔虎氣吞牛

男兒未了功名債

羞聽人間說武侯

Thuật hoài

Dịch thơ:

Múa giáo non sông trải mấy thu

Ba quân hùng khí át sao Ngưu

Công danh nam tử còn vương nợ

Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu.

(Trần Trọng Kim dịch)

Phạm Ngũ Lão mất ngày 1/11/1320, thọ 65 tuổi. Vua Trần Minh Tông vô cùng tiếc thương, nghỉ chầu 5 ngày, rồi phong là Thượng Đẳng Phúc Thần. Đây là một đặc ân của nhà vua đối với ông. Nhân dân Phù Ủng dựng đền thờ ngay trên nền nhà cũ của ông. Nhân dân cả nước từ xưa tới nay đều thành kính, kiêng gọi tên húy, chỉ gọi là Phạm Điện Súy hay Đức thánh Phạm. Tại rất nhiều nơi có thờ Đức thánh Trần Hưng Đạo cùng gia quyến, đều có phối thờ Phạm Điện Súy cùng các gia tướng.

Tại đền Kiếp Bạc (Chí Linh - Hải Dương), Phạm Điện Súy được thờ tại gian chính giữa tòa Trung từ. Phu nhân của ông là Anh Nguyên Công chúa được thờ cùng thân phụ, thân mẫu và anh chị của bà trong tòa Hậu cung của đền.

Con dân nước Việt xưa nay tới tham quan chiêm bái đền Kiếp Bạc, không chỉ được chiêm ngưỡng phong cảnh kỳ thú của đất này, mà còn được nghe kể về những trận đánh, những chiến công lừng lẫy trong các cuộc chiến chống ngoại xâm cùng nhiều truyện của triều Trần, trong đó có câu chuyện tình xúc động của Phạm Điện Súy và Anh Nguyên công chúa được lưu truyền suốt hơn 7 thế kỷ qua.

Một trong số những tên gọi được gợi ý sau sáp nhập.
23/04/2025

Một trong số những tên gọi được gợi ý sau sáp nhập.

🔖 LỊCH SỬ TỈNH HẢI DƯƠNG - MỘT TRONG "TỨ TRẤN" BẢO VỆ KINH THÀNH XƯANằm ở vị trí trung tâm Đồng bằng sông Hồng, thuộc ta...
22/03/2025

🔖 LỊCH SỬ TỈNH HẢI DƯƠNG - MỘT TRONG "TỨ TRẤN" BẢO VỆ KINH THÀNH XƯA

Nằm ở vị trí trung tâm Đồng bằng sông Hồng, thuộc tam giác kinh tế trọng điểm phía Bắc là Hà Nội-Hải Phòng-Quảng Ninh, Hải Dương được chính phủ quy hoạch thành thành phố trực thuộc trung ương.

Từng có thời là một trong "tứ trấn" bảo vệ kinh thành Thăng Long, Hải Dương nằm ở vị trí trung tâm Đồng bằng sông Hồng, thuộc tam giác kinh tế trọng điểm phía Bắc là Hà Nội-Hải Phòng-Quảng Ninh.

Bên cạnh đó, Hải Dương là một trong những khu vực văn hóa tâm linh của cả nước. Hải Dương có 1.098 khu di tích lịch sử, trong đó có 133 di tích quốc gia và nhiều khu di tích khác đã được xếp hạng đặc biệt quốc gia đó là khu Côn Sơn, Kiếp Bạc… Một số điểm du lịch đẹp và nổi tiếng là Côn Sơn-Kiếp Bạc, động Kính Chủ, đền cao An Phụ, gốm sứ Chu Đậu-Mỹ Xá, đảo cò Chi Lăng Nam...

Theo quy hoạch năm 2007, Hải Dương nằm trong vùng thủ đô với vai trò là một trung tâm công nghiệp của toàn vùng. Năm 2024, Hải Dương là 1 trong 8 tỉnh được Chính phủ Việt Nam quy hoạch thành thành phố trực thuộc trung ương.

👉 Vị trí địa lý

Trung tâm hành chính của tỉnh là thành phố Hải Dương, cách trung tâm thủ đô Hà Nội khoảng 57 km về phía Tây, cách trung tâm thành phố Hải Phòng khoảng 45 km về phía Đông.

Về địa giới hành chính, phía Bắc Hải Dương giáp tỉnh Bắc Giang; phía Đông giáp tỉnh Quảng Ninh và thành phố Hải Phòng; phía Tây giáp tỉnh Bắc Ninh và tỉnh Hưng Yên; phía Nam giáp tỉnh Thái Bình.

Hải Dương có tổng diện tích 1.668,28 km2. Theo kết quả điều tra dân số giữa kỳ năm 2024 (tính đến ngày 1/4/2024), dân số Hải Dương là 1.971.326 người, đứng thứ 8 cả nước.

👉 Lịch sử hình thành

Là một tỉnh thuộc vùng Ðồng bằng sông Hồng, có thời là một trong "tứ trấn" bảo vệ kinh thành Thăng Long, Hải Dương đã trải qua mọi biến động của lịch sử đất nước.

Đời Hùng Vương, địa bàn tỉnh Hải Dương ngày nay thuộc bộ Dương Tuyền, thời nhà Tần thuộc Tượng quận, thời nhà Hán thuộc quận Giao Chỉ, thời Đông Ngô thuộc Giao Châu, nhà Đường đặt ra Hải Môn trấn, sau đổi thành Hồng Châu.

Năm 905, Khúc Thừa Dụ, người làng Cúc Bồ (huyện Ninh Giang) đã lãnh đạo nhân dân lật đổ chính quyền cai trị của phong kiến phương Bắc, giành quyền tự chủ cho dân tộc.

Thế kỷ 13, khi vó ngựa Nguyên-Mông xâm lược nước ta, tại bến Bình Than (nay thuộc địa phận huyện Nam Sách), vua Trần Nhân Tông đã triệu tập và chủ trì cuộc họp của các vương hầu, bách quan bàn kế sách đánh giặc (lịch sử gọi cuộc họp này là Hội nghị Bình Than).

Tháng 5/1285, quân Nguyên-Mông bị quan quân nhà Trần đánh tan tác, tướng giặc là Toa Ðô bị chém chết. Hưng Ðạo Vương Trần Quốc Tuấn đuổi theo đánh úp tướng Thoát Hoan ở Vạn Kiếp.

Ngày 10/6/1285, chiến thắng Vạn Kiếp tiêu diệt quá nửa quân Nguyên-Mông. Thoát Hoan phải chui vào ống đồng chạy trốn sang biên giới.

Năm 1287, nhà Nguyên lại sai Trấn Nam Vương Thoát Hoan sang xâm lược nước ta. Quân Nguyên hội quân ở sông Bạch Ðằng đón thuyền lương, bị Hưng Ðạo Vương đánh bại.

Tháng 4/1288, Thoát Hoan đem tàn quân chạy theo đường bộ về Vạn Kiếp lên biên giới.

Đến thời nhà Trần đổi lại thành lộ Hồng, rồi lại đổi thành lộ Hải Đông. Sau đó đổi làm 4 lộ gồm Hồng Châu thượng, Hồng Châu hạ và Nam Sách thượng, Nam Sách hạ, (còn gọi chung là Nam Sách Giang).

Năm Quang Thái thứ 10 (1397), vua Trần Thuận Tông đổi lộ Hải Đông thành trấn Hải Đông.

Thời kỳ thuộc Minh (1407-1427), vùng đất Hải Dương thuộc hai phủ Lạng Giang và Tân An.

Thời nhà Hậu Lê, niên hiệu Thuận Thiên (1428-1433), vua Lê Thái Tổ cho thuộc Đông Đạo.

Khoảng niên hiệu Diên Ninh (1454-1459), vua Lê Nhân Tông chia lại thành 2 lộ là Nam Sách thượng và Nam Sách hạ.

Năm Quang Thuận thứ 7 (1466), vua Lê Thánh Tông đặt thừa tuyên Nam Sách.

Năm 1469 đổi làm thừa tuyên Hải Dương. Danh xưng Hải Dương chính thức ra đời, lúc này lỵ sở đặt tại trấn Doanh Vạn, Ải Vạn (hay còn gọi là Dinh Vạn), xã Mạc Động, huyện Chí Linh. Đây là trung tâm hành chính của thừa tuyên Hải Dương đến năm 1739.

Năm Hồng Đức thứ 21 (1490) đổi làm xứ Hải Dương.

Năm Hồng Thuận thứ nhất (1509), vua Lê Tương Dực đổi làm trấn Hải Dương.

Từ năm 1527-1592, nhà Mạc gọi là đạo Hải Dương. Năm 1529, Mạc Thái Tổ (Mạc Đăng Dung) trao ngôi vua cho con là Mạc Đăng Doanh còn Mạc Đăng Dung làm Thái thượng hoàng về Cổ Trai, lấy Nghi Dương làm Dương Kinh, trích phủ Thuận An ở Kinh Bắc và các phủ Khoái Châu, Tân Hưng, Kiến Xương, Thái Bình ở Sơn Nam cho lệ thuộc vào Dương Kinh.

Đời nhà Lê trung hưng, khoảng niên hiệu Quang Hưng (1578-1599), vua Lê Thế Tông đổi làm trấn theo nguyên như cũ.

Năm Cảnh Hưng thứ 2 (1741), vua Lê Hiển Tông chia làm 4 đạo Thượng Hồng, Hạ Hồng, Đông Triều và An Lão.

Nhà Tây Sơn đem phủ Kinh Môn thuộc Hải Dương đổi thuộc vào Yên Quảng.

Năm 1802, vua Gia Long đem Kinh Môn thuộc về trấn cũ và cho lệ thuộc vào Bắc Thành.

Năm 1804, đời vua Gia Long, lỵ sở Hải Dương được chuyển từ Mao Điền (Cẩm Giàng) về phía Đông 15 km thuộc tổng Hàn Giang, huyện Cẩm Giàng, đặt trên vùng đất cao thuộc ngã ba sông Thái Bình và sông Sặt với mục tiêu trấn thành án ngữ vùng biên hải phía đông Kinh đô Thăng Long, vì vậy có tên gọi là Thành Đông, nghĩa là đô thành ở phía Đông (nay là thành phố Hải Dương).

Năm Minh Mạng thứ 3 (1822), đổi phủ Thượng Hồng làm phủ Bình Giang, phủ Hạ Hồng làm phủ Ninh Giang, còn hai đạo Đông Triều và An Lão thì đặt làm hai huyện.

Năm Minh Mạng thứ 12 (1831), tỉnh Hải Dương chính thức được thành lập (lúc này tỉnh Hải Dương còn có tên gọi là tỉnh Ðông), bao gồm phủ Thượng Hồng có các huyện Ðường Hào, Dương Yên, Cẩm Giàng, Thanh Miện, Tứ Kỳ, Vĩnh Bảo; phủ Nam Sách có các huyện Nam Sách, Chí Linh, Thanh Hà, Tiên Lãng; phủ Kinh Môn có các huyện Giáp Sơn, Ðông Triều, Thủy Ðường, An Lão, Nghi Dương, Kim Thành, An Dương.

Năm 1873, quân Pháp bắt đầu xâm lược Hải Dương, nhưng đã phải thua chạy trước sự chống trả quyết liệt của nhân dân Hải Dương. Phải 10 năm sau (năm 1883), quân Pháp mới quay lại và chiếm đóng Hải Dương.

Năm 1887, huyện An Dương, An Lão và một phần đất của huyện Thủy Ðường được tách ra, thành lập tỉnh Hải Phòng.

Năm 1889, cắt toàn bộ huyện Thủy Ðường và năm 1893 cắt tiếp huyện Tiên Lãng cùng một phần đất huyện Kim Thành, Kinh Môn về Hải Phòng.

Ðầu thế kỷ 20, phong trào yêu nước theo xu hướng dân chủ tư sản dấy lên mạnh mẽ ở Hải Dương. Ðiển hình là phong trào Ðông Du, Ðông Kinh Nghĩa Thục (1905-1907); phong trào đòi thả cụ Phan Bội Châu, để tang cụ Phan Chu Trinh (1925-1926)...

Năm 1923, Toàn quyền Đông Dương quyết định thành lập thành phố Hải Dương.

Năm 1947, trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, để tiện cho việc chỉ đạo, chỉ huy tác chiến, các huyện Ðông Triều, Chí Linh, Nam Sách, Kinh Môn chuyển về tỉnh Hồng Quảng. Năm 1954, các huyện trên lại chuyển về tỉnh Hải Dương.

Năm 1960, huyện Ðông Triều được cắt hẳn về Hồng Quảng và huyện Vĩnh Bảo cũng cắt về tỉnh Kiến An.

Từ năm 1960 trở đi, tỉnh Hải Dương có các huyện Ninh Giang, Tứ Kỳ, Gia Lộc, Thanh Miện, Bình Giang, Cẩm Giàng, Nam Sách, Kinh Môn, Kim Thành, Thanh Hà, Chí Linh và thị xã Hải Dương.

Tháng 3/1968, theo Nghị quyết số 504/NQ-TVQH của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, tỉnh Hải Dương hợp nhất với tỉnh Hưng Yên thành tỉnh Hải Hưng. Toàn tỉnh lúc này có 20 huyện và 2 thị xã, tỉnh lỵ là thị xã Hải Dương.

Tháng 4/1979, huyện Gia Lộc hợp nhất với huyện Tứ Kỳ thành huyện Tứ Lộc; huyện Thanh Miện hợp nhất với huyện Ninh Giang thành huyện Ninh Thanh; huyện Cẩm Giàng hợp nhất với huyện Bình Giang thành huyện Cẩm Bình.

Tháng 4/1979, huyện Nam Sách hợp nhất với huyện Thanh Hà thành huyện Nam Thanh; huyện Kinh Môn hợp nhất với huyện Kim Thành thành huyện Kim Môn.

Tháng 6/1996, huyện Ninh Thanh và Tứ Lộc tách ra thành các huyện Ninh Giang, Thanh Miện, Tứ Kỳ, Gia Lộc.

Tháng 1/1997, tỉnh Hải Hưng tách ra thành 2 tỉnh Hải Dương và Hưng Yên, tỉnh lỵ tỉnh Hải Dương là thị xã Hải Dương.

Tháng 4/1997, huyện Cẩm Bình tách thành 2 huyện Cẩm Giàng và Bình Giang; huyện Kim Môn tách thành 2 huyện Kim Thành và Kinh Môn; huyện Nam Thanh tách thành 2 huyện Nam Sách và Thanh Hà.

Tháng 8/1997, Chính phủ ban hành Nghị định số 88/NÐ-CP nâng cấp thị xã Hải Dương thành thành phố Hải Dương. Như vậy, từ năm 1997 đến nay, tỉnh Hải Dương có 11 huyện là Gia Lộc, Tứ Kỳ, Ninh Giang, Thanh Miện, Cẩm Giàng, Bình Giang, Nam Sách, Thanh Hà, Kim Thành, Kinh Môn, Chí Linh và thành phố Hải Dương.

Ngày 17/5/2009, thành phố Hải Dương được công nhận là đô thị loại 2.

Ngày 23/9/2009, Chính phủ ban hành Nghị quyết về việc điều chỉnh địa giới hành chính phường và thành lập các phường Nhị Châu (tách ra từ phường Ngọc Châu) và Tân Bình (tách ra từ phường Thanh Bình) thuộc thành phố Hải Dương.

Ngày 12/2/2010, chuyển huyện Chí Linh thành thị xã Chí Linh.

Ngày 1/3/2019, Chí Linh chính thức trở thành thành phố trực thuộc tỉnh Hải Dương.

Ngày 17/5/2019, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 580/QĐ-TTg công nhận thành phố Hải Dương mở rộng đạt tiêu chí đô thị loại 1 trực thuộc tỉnh Hải Dương.

Ngày 1/11/2019, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 768/NQ-UBTVQH14 (nghị quyết có hiệu lực từ ngày 1/11/2019). Theo đó, chuyển huyện Kinh Môn thành thị xã Kinh Môn và thành lập xã Quang Thành trên cơ sở sáp nhập toàn bộ diện tích và dân số của hai xã Quang Trung và Phúc Thành.

Hiện nay, tỉnh Hải Dương có 2 thành phố (Hải Dương, Chí Linh); 1 thị xã (Kinh Môn) và 9 huyện (Nam Sách, Kim Thành, Thanh Hà, Tứ Kỳ, Gia Lộc, Ninh Giang, Thanh Miện, Bình Giang, Cẩm Giàng).

Theo Cục Thống kê tỉnh Hải Dương, tăng trưởng kinh tế tỉnh Hải Dương năm 2024 ước đạt 10,2%; cao thứ 6/63 cả nước và thứ 3/11 vùng Đồng bằng sông Hồng (sau Hải Phòng 11,01%; Hà Nam 10,93%). Quy mô kinh tế của tỉnh Hải Dương ước đạt 212.386 tỷ đồng, tiếp tục đứng thứ 11 cả nước./.
---------
Theo Vietnam+

☎️0376393568

Address

Trạm Sạc Vinfast, Ngã 3 Bãi Rễ, Đường Trần Nguyên Đán, QL 37, Phường Cộng Hoà, Thành Phố Chí Linh, SDT: 0376 393 568/0917 169 422
Hai Duong
10000

Telephone

+84376393568

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Nhà Hàng Hoàng Hảo - KDL Côn Sơn Kiếp Bạc posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Business

Send a message to Nhà Hàng Hoàng Hảo - KDL Côn Sơn Kiếp Bạc:

Share

Category