Non Nước Việt Nam

Non Nước Việt Nam Việt Nam đất nước ta ơi
Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn
Cánh cò bay lả rập rờn
Mây mờ che đỉnh Trường Sơn sớm chiều Các anh dựng cho em trường mới nữa.

TA ĐI TỚI


Ta đi giữa ban ngày
Trên đường cái, ung dung ta bước.
Đường ta rộng thênh thang tám thước
Đường Bắc Sơn, Đình Cả, Thái Nguyên
Đường qua Tây Bắc, đường lên Điện Biên
Đường cách mạng, dài theo kháng chiến…
Đến hôm nay đường xuôi về biển
Mới tinh khôi màu đất đỏ tươi
Đẹp vô cùng, Tổ quốc ta ơi! Rừng cọ đồi chè, đồng xanh ngào ngạt
Nắng chói sông Lô, hò ô tiếng hát
Chuyến phà dào dạt bến n

ước Bình Ca…
Ai qua Phú Thọ
Ai xuôi Trung Hà
Ai về Hưng Hoá
Ai xuống khu Ba
Ai vào khu Bốn
Đường ta đó, tự do cuồn cuộn
Bốt đồn Tây đã cuốn sạch rồi! Sông Thao nao nức sóng dồi
Ai về Hà Nội thì xuôi cùng thuyền.
Ờ, đã chín năm rồi đấy nhỉ! Kháng chiến ba ngàn ngày không nghỉ
Bắp chân, đầu gối vẫn săn gân. Ngẩng đầu lên: trong sáng tuyệt trần
Tháng Tám mùa thu xanh thẳm
Mây nhởn nhơ bay
Hôm nay ngày đẹp lắm! Mây của ta, trời thẳm của ta
Nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà!
Đã tan tác những bóng thù hắc ám
Đã sáng lại trời thu tháng Tám
Trên đường ta về lại Thủ đô
Cờ đỏ bay quanh tóc bạc Bác Hồ! Mẹ ơi, lau nước mắt
Làng ta giặc chạy rồi! Tre làng ta lại mọc
Chuối vườn ta xanh chồi
Trâu ta ra bãi ra đồi
Đồng ta lại hát hơn mười năm xưa…
Các em ơi, đã học chưa? Chúng nó chẳng còn mong giội lửa
Trường của em đứng giữa đồi quang
Tiếng các em thánh thót quanh làng. Ai đi Nam Bộ
Tiền Giang, Hậu Giang
Ai vô thành phố
Hồ Chí Minh
Rực rỡ tên vàng. Ai về thăm Bưng biền Đồng Tháp
Việt Bắc miền Nam, mồ ma giặc Pháp
Nơi chôn rau cắt rốn của ta! Ai đi Nam – Ngãi, Bình Phú, Khánh Hoà
Ai vô Phan Rang, Phan Thiết
Ai lên Tây Nguyên,
Kông Tum, Đắc Lắc
Khu Năm, dằng dặc khúc ruột miền Trung
Ai về với quê hương ta tha thiết
Sông Hương, Bến Hải, Cửa Tùng…
Ai vô đó, với đồng bào, đồng chí
Nói với Nửa – Việt Nam yêu quý
Rằng: Nước ta là của chúng ta
Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà! Chúng ta, con một cha, nhà một nóc
Thịt với xương, tim óc dính liền. Dù ai nói ngả nói nghiêng
Lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân
Dù ai rào giậu ngăn sân
Lòng ta vẫn giữ là dân Cụ Hồ! Ta đã lớn lên rồi trong khói lửa
Chúng nó chẳng còn mong được nữa
Chặn bàn chân một dân tộc anh hùng
Những bàn chân từ than bụi, lầy bùn
Đã bước dưới mặt trời cách mạng. Những bàn chân của Hóc Môn, Ba Tơ, Cao Lạng
Lừng lẫy Điện Biên, chấn động địa cầu
Những bàn chân đã vùng dậy đạp đầu
Lũ chúa đất xuống bùn đen vạn kiếp! Ta đi tới, trên đường ta bước tiếp,
Rắn như thép, vững như đồng.
Đội ngũ ta trùng trùng điệp điệp
Cao như núi, dài như sông
Chí ta lớn như biển Đông trước mặt! Ta đi tới, không thể nào chia cắt
Mục Nam quan đến bãi Cà Mau
Trời ta chỉ một trên đầu
Bắc nam liền một biển
Lòng ta không giới tuyến
Lòng ta chung một cụ Hồ
Lòng ta chung một Thủ đô
Lòng ta chung một cơ đồ Việt Nam!
8-1954
Tố Hữu

CẤP BẬC QUAN LẠI TRONG XÃ HỘI PHONG KIẾN- Quang lộc tự: cung cấp, kiểm tra rượu lễ, thực vật trong các buổi tế tự, triều...
04/01/2025

CẤP BẬC QUAN LẠI TRONG XÃ HỘI PHONG KIẾN

- Quang lộc tự: cung cấp, kiểm tra rượu lễ, thực vật trong các buổi tế tự, triều hội, yến tiệc.

- Ðại lý tự: Cơ quan xét xử tối cao, xét lại các án còn ngờ.

- Thái thường tự: trông coi đền chùa, thi hành thể thức lễ nghi, điều khiển ban âm nhạc.

- Thái bảo tự: đóng ấn quyển thi Hội.

Bên cạnh đó còn có các chức quan khác, đó là:

- Thượng thư tỉnh: giúp Tể tướng điều khiển trăm quan liên lạc với Thượng thư các Bộ.

- Trung thư tỉnh: là cơ quan quyết định chính sách, phụ trách thảo luận, soạn thảo, ban hành chiếu lệnh của Hoàng đế.

- Môn hạ tỉnh: chuyển lệnh vua đến các quan, tâu vua việc các quan thi hành lệnh vua, điều khiển lễ nghi trong cung.

- Khu mật sứ: Cơ mật viện, coi việc cơ mật, nắm quyền binh.

- Ngự sử đài: cơ quan giám sát, can gián các quan ở triều đình, sau còn được gọi là Đô sát viện.

- Hàn lâm viện: lo biên soạn văn thư.

- Quốc tử giám: lo dạy dỗ đào tạo con em giới cầm quyền, đứng đầu là Tế tửu.

- Tư thiên giám / Khâm thiên giám: coi thiên văn, lịch pháp.

- Thái y viện: lo việc thuốc men, chữa bệnh cho hoàng tộc, quan lại.

- Nội các: là văn phòng vua, ghi chép tấu, sớ các nha dâng lên, khởi thảo chiếu, chế, sắc ban ra các cơ quan, thi Ðình thì đằng lục các chế sách và cấp quyển thi.

- Tôn nhân phủ: là cơ quan quản lý nội bộ hoàng tộc, trông nom sổ sách, ngọc phả, đền miếu trong hoàng tộc; giải quyết các vấn đề có liên quan đến các thân vương, công tử, công tôn...

- Nội vụ phủ: là nơi quản lý các thái giám, cũng như công việc hành chính ở hậu cung.

2. Quan ở địa phương:

- Thứ sử: giám sát, coi việc hành chính đứng đầu một quận quốc, hay một tỉnh, dù dưới quyền Thái thú, nhưng là người đại diện cho Thái thú khi vào kinh, sau khi chức Thái thú được bỏ thì Thứ sử là cao nhất.

- Thái thú: quan đứng đầu một quận, nhiệm vụ là thu nạp các cống phẩm của địa phương, nếu quận loạn lạc, sẽ được bổ nhiệm thêm một Đô úy có nhiệm vụ phụ trách quân sự, còn không Thái thú quản cả quân sự và dân sự của quận đó.

- Tổng đốc: là viên quan đứng đầu một vùng bao gồm nhiều tỉnh thành, trông coi cả về dân sự và quân sự.

- Tuần phủ: là người lãnh đạo một tỉnh hoặc một bộ phận của tỉnh lớn, có quyền bổ nhiệm, bãi nhiệm các chức quan dưới quyền ở địa phương mình quản lý, có quyền lãnh đạo về hành chính, tài chính, quân sự cùa tỉnh. Nếu ở tỉnh đó có Tổng đốc, thì Tuần phủ phải nghe theo Tổng đốc.

- Tri phủ (tứ phẩm): Đứng đầu một phủ hoặc châu, có quyền cả dân sự và quân sự.

- Phủ doãn: quan thuộc cấp huyện, đàn áp cường hào, xét những vụ kiện do quan huyện xử mà kêu lại ở bản hạt, hàng ngũ phẩm.

- Án sát sứ: coi việc hành chính, kiện tụng, tư pháp, phong hóa, kỷ cương ở các tỉnh, dưới quyền Tổng đốc, Tuần phủ.

- Tri huyện (bát phẩm): đứng đầu một huyện.

- Huyện thừa (cửu phẩm): lo công văn, sổ sách trong huyện, phụ giúp Tri huyện.

- Xã trưởng: là người đứng đầu một xã, giúp các quan lại quản lý việc thu thuế của dân, giữ gìn an ninh trật tự, chọn lính nhập ngũ hoặc chọn thí sinh đi thi cử.

- Thượng tướng quân: quan ngoài, coi việc binh.

- Ðô hộ phủ Sĩ sư : (Ðường) coi phiên quốc, sau cải là Tiết độ sứ.

- Lãnh binh: võ tướng, chỉ huy quân đội cấp tỉnh.

- Ðô đốc: người trực tiếp điều khiển 5 quân.

- Thiếu úy: là chức quan tổng thống việc binh, coi cấm quân.

- Bá hộ: cũng gọi là Bách hộ, quan võ cầm 100 binh.

- Biền binh : một hạng lính không thường trực ở các tỉnh và kinh thành, chia ba ban thay nhau trực trong quân đội.

- Tiết độ sứ : là Ðô hộ phủ, quan võ coi ngoài biên ải.

- Vũ vệ : quân hộ tống khi vua đi ra ngoài.

- Vệ : cấm quân, bảo vệ quanh vua.

- Thị vệ: lính hộ vệ nhà vua.

- Thân vệ: vệ binh của vua.

- Ðốc trấn: giữ yên địa phương.

- Cẩm y vệ: đi tuần cảnh, cấm binh.

- Lính lệ : làm tạp vụ ở huyện.

- Ðô thống ngũ quân (tiền, hậu, tả, hữu, trung) : quan võ, bảo vệ vua, hoàng tộc và kinh thành. Chỉ huy 5 binh chủng : Bộ binh, Thủy binh, Pháo binh, Tượng binh, Kỵ binh.

- Ðề lãnh: tuần hành xem xét các địa phận trong thành, xét hỏi những vụ kiện do Ngự sử đài quản lý.

- Vệ úy: người quản lý cửa cung, cửa thành.

3. Phẩm hàm:

Về cơ bản quan lại các triều đại về sau đều được chia ra làm chín phẩm, mỗi phẩm lại có hai cấp bậc là Chính và Tòng (phó), cấp Tòng thường là người phò tá cho Chính, có lương bổng thấp hơn một chút nhưng cùng phẩm quan.

- Nhất phẩm:

Quan văn: Tể tướng, Tư đồ; Thái sư, Thái phó, Thái bảo, Đại học sĩ cần chánh điện, Thái tử thái sư (phó).

Quan võ: Thái úy, Tư mã, Đô thống, Đô đốc, Thượng tướng quân.

- Nhị phẩm:

Quan văn: Thiếu sư, Thiếu phó, Thiếu bảo, Thượng thư (đứng đầu các bộ), Tổng đốc (đứng đầu hai, ba tỉnh), Tuần phủ (đứng đầu một tỉnh).

Quan võ: Thiếu úy, Đề đốc, Đề lãnh, Tham đốc, Đại Tướng quân.

- Tam phẩm:

Quan văn: Tổng thái giám, thứ sử (đứng đầu các Châu) , Thị lang (Phó của Thượng thư), Ngự sử đại phu (chuyên can giám, kiểm soát các quan).

Quan võ: Nhất đẳng thị vệ, Vệ úy thị nội, Vệ úy giám thành, Vệ úy các quân, Tổng chỉ huy sứ (nắm quyền chỉ huy quân đội), Tổng binh sứ. Các quan võ cấp này thường được gọi là Tướng quân, trừ Thị vệ.

- Tứ phẩm:

Quan văn: Học sĩ (trong viện Hàn lâm), Thái giám, Trường sử (Thư ký về văn thư), Phó tổng ngự sử, Tham tri.

Quan võ: Nhị đẳng thị vệ, Thành thủ úy, Cai đội nội các, Chỉ huy sứ, Tiết độ sứ. Các quan võ cấp này còn được gọi là Giám quân.

- Ngũ phẩm:

Quan văn: Phủ doãn, Đại sứ Thái y viện, Thị giảng trong Hàn Lâm Viện, Đông các Đại học sĩ.

Quan võ: Hiệu úy Cấm vệ quân, Tam đẳng thị vệ, Tứ đẳng thị vệ (cấp Phó), Đội trưởng các quân, Cai đội giám thành.

- Lục phẩm:

Quan văn: Thị thư trong Hàn Lâm Viện, Ngự y chính trong Thái y viện, Giám trưởng Tư thiên giám, Lang trung (mỗi bộ có 4 Ty, Lang trung đứng đầu các Ty), Tri phủ, Viên ngoại lang (trong lục bộ, cấp phó).

Quan võ: Ngũ đẳng thị vệ, Cai đội các thành trấn, Cai đội thổ binh, Đội trưởng chư quân.

- Thất phẩm:

Quan văn: Ngự sử giám sát, Trường sử ở Vương phủ, cấp phó trong Thái y viện, Giám phó Tư thiên giám, Tri huyện, Tri châu, Thông phán (quan chuyên xét xử)

Quan võ: Tiểu đội trưởng Cấm vệ quân, Tiểu đội trưởng Giám thành, Tiểu đội trưởng Chư quân.

- Bát phẩm:

Quan văn: Tu soạn trong Hàn Lâm Viện, Giám thứ trong Tư thiên giám, Huấn đạo, Huyện thừa (lo công văn), Tri sư các phủ.

Quan võ: Đội trưởng trạm dịch, Đội trướng các trấn đạo, binh ở Đại lý tự, Đội trưởng binh lính ở địa phương.

- Cửu phẩm:

Quan văn: Các quan lo công văn ở các chợ, bến đồ, trạm dịch; Y sinh Thái y viện, Điển bạ Quốc tử giám, Đãi chiếu Hàn lâm viện.

Quan võ: Cai tổng, Cai huyện.

St: Di Sản Việt

🇻🇳Hướng tuyến đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc-Nam🚄🚄🚄Tại Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi Dự án đường sắt tốc độ cao tr...
02/10/2024

🇻🇳Hướng tuyến đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc-Nam🚄🚄🚄

Tại Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi Dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam, hướng tuyến đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc -Nam được mô tả tóm tắt như sau.

Trong phạm vi TP. Hà Nội, hướng tuyến từ ga Ngọc Hồi cơ bản đi theo hành lang quy hoạch, đến cuối huyện Phú Xuyên, hướng tuyến kiến nghị tách ra hướng về phía Đông để vòng tránh khu công nghiệp Đồng Văn trên địa bàn huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.

Tiếp đó tuyến vượt Quốc lộ 1, đường sắt hiện tại đi về phía Đông đường bộ cao tốc về TP. Phủ Lý. Ga Phủ Lý đặt tại xã Liêm Tuyền và xã Liêm Tiết, TP. Phủ Lý gần khu vực nút Liêm Tuyền, phía Đông đường cao tốc Bắc - Nam.

Từ sau ga Phủ Lý, tuyến cơ bản đi theo hướng đường sắt hiện tại và Quốc lộ 21 về phía TP. Nam Định. Ga Nam Định đặt tại xã Mỹ Hưng, huyện Mỹ Lộc (gần ga Đặng Xá đường sắt hiện tại).

Sau ga Nam Định, tuyến đi về phía Ninh Bình, vượt sông Đáy tại khu vực phía Đông khu công nghiệp Khánh Phú (TP. Ninh Bình). Sau khi giao cắt với Quốc lộ 10 hướng tuyến đi song song về phía Đông của đường bộ cao tốc.

Đông Hà (gần trục đường Điện Biên Phủ).

Tiếp theo, tuyến đi thẳng về phía Nam, vượt sông Thạch Hãn cách cầu đường sắt hiện tại khoảng 3,5 km về phía thượng lưu, tuyến cách thánh địa La Vang khoảng 2 km về phía Tây, vượt sông Ô Lâu sang địa phận tỉnh Thừa Thiên Huế.

Tuyến tiếp tục kết nối phía Tây tỉnh Quảng Trị, sau khi đi qua ga Hải Lăng tuyến rẽ trái cắt qua đường sắt Bắc - Nam, cắt qua Quốc lộ 1, đến địa phận xã Phong Hòa (Thừa Thiên Huế), đi giữa ranh giới Khu Công nghiệp Phong Điền hiện hữu và Quy hoạch Khu công nghiệp Phong Điền mở rộng.

Tuyến vượt sông Hương sang địa phận huyện Phú Vang, cắt qua dự án thương mại kết hợp bến tàu xã Phú Thành, Khu công viên Phò An, cắt qua khu C, D, E của khu đô thị mới An Vân Dương, cắt qua xã Phú Mỹ, đi qua xã Phú Hồ, Phú Lương, cắt qua khu vực quy hoạch thị trấn Phú Đa, đi qua xã Phú Gia, Vinh Hà. Ga Huế đặt tại xã Phú Mỹ, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Tuyến qua khu vực đầm Cầu Hai, vượt Quốc lộ 49B vào khu kinh tế Chân Mây, rẽ phải vượt Quốc lộ 1 và đường sắt hiện tại, qua đèo Hải Vân sang địa phận TP. Đà Nẵng.

Trên địa bàn TP. Đà Nẵng, sau khi vượt đèo Hải Vân, tuyến đi men theo lưu vực sông Cu Đê, đi cùng hành lang, chạy song song về phía Đông đường bộ cao tốc. Vị trí Ga Hòa Vang đặt tại xã Hòa Sơn, huyện Hòa Vang, TP. Đà Nẵng, khu vực phía Bắc nút giao giữa đường Bà Nà - Suối Mơ với đường bộ cao tốc.

Sau khu vực nhà ga Đà Nẵng, hướng tuyến vẫn bám theo đường bộ cao tốc, đi kẹp giữa đường bộ cao tốc và đường sắt hiện tại sang địa phận tỉnh Quảng Nam.

Trong đoạn Đà Nẵng - Tam Kỳ, hướng tuyến đi gần song song về phía Đông tuyến đường sắt hiện tại và đường bộ cao tốc. Vị trí Ga Tam Kỳ đặt tại phía Tây, gần tuyến tránh TP. Tam Kỳ.

Trên địa phận tỉnh Quảng Nam bố trí Ga hàng hóa Chu Lai tại khu vực giáp ranh xã Tam Hiệp và xã Tam Mỹ Tây, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam gần đường ĐT.617. Nhà ga này sẽ phục vụ kết nối với khu vực Cảng hàng không Chu Lai, các cảng biển Kỳ Hà, Dung Quất.

Sau đó tuyến cơ bản đi về phía Tây đường bộ cao tốc, qua khu vực Dốc Sỏi vào địa phận tỉnh Quảng Ngãi. Tiếp đó, tuyến vẫn đi theo hướng đường bộ cao tốc hiện tại đi về phía TP. Quảng Ngãi. Ga Quảng Ngãi đặt tại khu vực phía Tây thành phố, gần trục đường Hoàng Hoa Thám.

Từ ga Quảng Ngãi, tuyến chạy cơ bản song song về phía tây đường sắt hiện tại trên địa phận huyện Nghĩa Hành, vượt sông Vệ tại vị trí cách cầu sông Vệ của đường sắt hiện tại khoảng 2 km về phía thượng lưu.

Phạm vi huyện Mộ Đức và Đức Phổ, tuyến chạy giữa đường sắt hiện tại và đường bộ cao tốc. Cuối địa phận thị trấn Đức Phổ, tuyến vượt đường bộ cao tốc, đi về phía Tây vượt đèo Bình Đê và sang địa phận tỉnh Bình Định.

Từ ranh giới với tỉnh Bình Định, tuyến đi cùng hành lang về phía Tây đường bộ cao tốc đến khu vực ga Bồng Sơn, thuộc địa phận xã Hoài Tân và thị trấn Bồng Sơn, huyện Hoài Nhơn. Sau đó tuyến đường sắt vượt qua đường bộ cao tốc, đi về phía TP. Quy Nhơn.

Vị trí ga Diêu Trì đặt tại khu vực xã Phước An, huyện Tuy Phước, sau đó vượt đèo Cù Mông sang địa phận tỉnh Phú Yên. Tuyến tiếp tục đi về phía Tây đường bộ cao tốc, đến thị xã Sông Cầu, tuyến đi về phía Đông đường bộ cao tốc.

Đến khu vực TP. Tuy Hòa, có hai phương án tuyến đi vào khu vực trung tâm và đi vòng tránh về phía Tây đô thị. Phương án đi về phía Tây đô thị được lựa chọn, vị trí ga Tuy Hòa đặt tại xã Hòa Thành, thị xã Đông Hòa, cách sân bay khoảng 4,2 km về phía Tây. Sau đó tuyến đi cùng hành lang với đường bộ cao tốc, vượt đèo Cả sang địa phận tỉnh Khánh Hòa.

Từ ranh giới với tỉnh Phú Yên, tuyến qua khu vực đèo Cả, Cổ Mã, đi về phía Tây Quốc lộ 1A và đường sắt hiện tại. Vị trí ga Diên Khánh được đặt xã Diên Thạnh, huyện Diên Khánh gần Quốc lộ 27C, cách trung tâm TP. Nha Trang khoảng 11 km về phía Tây.

Ga hàng hóa Vân Phong được bố trí tại xã Ninh An, Thị xã Ninh Hòa để đảm bảo đồng bộ, phù hợp định hướng phát triển của khu kinh tế Vân Phong.

Sau đó, tuyến đi chung hành lang với đường bộ cao tốc đoạn Cam Lâm - Vĩnh Hảo, vào địa phận tỉnh Ninh Thuận. Tuyến cơ bản đi trong hành lang giữa Quốc lộ 1A, đường sắt hiện tại và đường bộ cao tốc. Qua TP. Phan Rang - Tháp Chàm, tuyến đi song song về phía Đông và cách đường sắt hiện tại khoảng 2 km. Ga Tháp Chàm được bố trí tại khu vực phường Phước Mỹ, TP. Phan Rang - Tháp Chàm gần vị trí giao Quốc lộ 27.

Sau đó, tuyến đi về phía Nam, qua khu vực Cà Ná vào địa phận tỉnh Bình Thuận. Từ khu vực Cà Ná, tuyến cơ bản đi chung hành lang về phía Đông của đường bộ cao tốc, đi về vị trí ga Phan Rí đặt tại xã Phan Hòa, huyện Bắc Bình, cách trung tâm thị xã Phan Rí Cửa khoảng 5 km.

Tiếp theo, tuyến vượt sông Lũy, đi về phía Bắc Dự án điện mặt trời Bình Tân 1, 2, đi về phía Tây núi Tà Zon, đi song song về phía Đông đường sắt hiện tại về Ga Mương Mán thuộc xã Mương Mán, huyện Hàm Thuận Nam đặt cách ga Mương Mán hiện tại khoảng 0,4 km, cách trung tâm TP. Phan Thiết khoảng 13,2 km.

Tiếp đó, tuyến đi song song về phía Đông đường sắt hiện tại, đi về phía Bắc thị trấn Tân Minh, qua phía Bắc khu công nghiệp Tân Đức và đi về phía tỉnh Đồng Nai.

Trên địa bàn tỉnh Đồng Nai tuyến cơ bản đi chung hành lang về phía Đông tuyến đường bộ cao tốc Phan Thiết - Dầu Giây.

Đến địa phận huyện Cẩm Mỹ, tuyến rẽ trái đi vào đường trục trung tâm sân bay quốc tế Long Thành, bố trí thêm nhánh rẽ phải đi dọc theo đường Vành đai 4 lên phía Bắc để kết nối với Ga hàng hóa Trảng Bom phục vụ trung chuyển hàng hóa. Ga hành khách Long Thành đặt tại khu vực trung tâm sân bay thuộc xã Bình Sơn, huyện Long Thành.

Sau đó tuyến đi về phía Nam, dọc theo hành lang tuyến đường cao tốc TP. Hồ Chí Minh - Long Thành - Dầu Giây để về Ga Thủ Thiêm là ga cuối của dự án.

Theo tư vấn TEDI - TRICC - TEDI SOUTH , về cơ bản hướng tuyến đề xuất đảm bảo các tiêu chuẩn kỹ thuật đề ra.

"Riêng một số khu vực do khống chế bởi điều kiện hiện trạng và quy hoạch, yếu tố kỹ thuật tuyến được nghiên cứu chiết giảm trong phạm vi cho phép nhằm giảm thiểu khối lượng giải phóng mặt bằng và tránh các tác động lớn tới quy hoạch địa phương như TP. Hà Nội, Vinh, Đồng Nai, TPHCM", liên danh tư vấn TEDI - TRICC - TEDI SOUTH cho biết.


Đường sắt tốc độ cao Bắc-Nam: Dài khoảng 1541 km, tổng mức đầu tư hơn 67 tỷ USD

VIỆT NAM CÓ 3.260 KM ĐƯỜNG BỜ BIỂN Và đây là top các tỉnh có đường bờ biển dài nhất Việt Nam phân theo 28 địa phương:1. ...
26/06/2024

VIỆT NAM CÓ 3.260 KM ĐƯỜNG BỜ BIỂN

Và đây là top các tỉnh có đường bờ biển dài nhất Việt Nam phân theo 28 địa phương:

1. Khánh Hoà 385 km
2. Cà Mau 254 km
3. Quảng Ninh 250 km
4. Kiên Giang 200 km
5. Bình Thuận 192 km
6. Phú Yên 182 km
7. Hà Tĩnh 137 km
8. Bình Định 134 km
9. Quảng Ngãi 130 km
10. Quảng Bình 126 km
11. Hải Phòng 125 km
12. Quảng Nam 125 km
13. Thừa Thiên Huế 120 km
14. Ninh Thuận 105 km
15. Thanh Hoá 102 km
16. Nghệ An 82 km
17. Quảng Trị 75 km
18. Nam Định 72 km
19. Bà Rịa - Vũng Tàu 72 km
20. Sóc Trăng 72 km
21. Trà Vinh 65 km
22. Bến Tre 60 km
23. Bạc Liêu 56 km
24. Thái Bình 52 km
25. Đà Nẵng 37 km
26. Tiền Giang 32 km
27. TP. Hồ Chí Minh 17 km
28. Ninh Bình 16 km

St.

13 ĐIỀU ĐẶC BIỆT CỦA TỈNH ĐIỆN BIÊN============================01. Việt Nam có các cực “Đông, Tây, Nam, Bắc” thì tỉnh Đi...
05/04/2024

13 ĐIỀU ĐẶC BIỆT CỦA TỈNH ĐIỆN BIÊN
============================
01. Việt Nam có các cực “Đông, Tây, Nam, Bắc” thì tỉnh Điện Biên có một trong 4 cực đó. Nơi được mệnh danh “một con gà gáy ba nước cùng nghe tiếng” đó chính là cực Tây – đỉnh mốc A Pa Chải (xã Sín Thầu, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên), mốc giao điểm tiếp giáp biên giới giữa Việt Nam – Lào – Trung Quốc.

02. Những cung đường đèo luôn ẩn chứa sự nguy hiểm nhưng lại sở hữu vẻ đẹp thiên nhiên hùng vĩ. 4 đại đỉnh đèo huyền thoại ở Tây Bắc Việt Nam gọi là “Tứ đại đỉnh đèo”: Ô Quy Hồ, Pha Đin, Khau Phạ, Mã Pí Lèng đã trở thành điểm khám phá vô cùng ưa thích của du khách khi đến với miền Tây Bắc xa xôi của Việt Nam (Đèo Pha Đin nằm ở tỉnh Điện Biên, và chia đôi ranh giới với tỉnh Sơn La)

03. Điện Biên là tỉnh gắn với câu ví "Ruồi vàng, bọ chó, gió Tây Trang" là câu nói ám ảnh với bất kỳ ai đã lên với vùng đất xa xôi heo hút, nơi có cửa khẩu quốc tế Tây Trang trên biên giới Việt – Lào. Nơi đây có những cơn gió nóng khô thổi tung bụi mù vào dịp cuối xuân và chớm hè. Do đó mà phụ nữ chính cống nơi đây có nước da ngăm ngăm bánh mật, còn trắng trẻo được coi là thành phần “ngoại lai”🤓

04. Tính đến năm 2024, tỉnh Điện Biên là tỉnh duy nhất trong 14 tỉnh vùng Trung du và miền núi phía Bắc có cảng hàng không dân dụng (tỉnh Sơn La có sân bay Nà Sản nhưng chỉ phục vụ cho công tác Quân sự)

05. Là tỉnh đồng thời và duy nhất có chung đường biên giới trên đất liền giáp với cả hai quốc gia Lào và Trung Quốc.

06. Là địa danh có quần thể di tích lịch sử Chiến thắng Điện Biên Phủ "Lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu", giải phóng cho dân tộc Việt Nam thoát khỏi ách đô hộ gần 100 năm của thực dân Pháp.

07. Bức Tranh Panorama “Chiến dịch Điện Biên Phủ” là bức tranh tròn đầu tiên, duy nhất Việt Nam, quy mô lớn nhất Đông Nam Á và là một trong ba bức tranh tròn lớn trên thế giới.

08. Việt Nam có hơn 2360 con sông, đa số đều bắt nguồn từ nước ngoài, nhưng riêng ở Điện Biên có 2 sông đầu nguồn từ trong tỉnh: Sông Nậm Rốm chảy sang nước bạn Lào, nhập vào sông Mê Kong xuôi dòng về Việt Nam; Sông Mã chảy qua địa phận tỉnh Sơn La, Thanh Hóa đổ về biển cả. (Ở phía Bắc còn có Sông Kỳ Cùng ở Lạng Sơn cũng bắt nguồn từ Việt Nam chảy sang nước bạn Trung Quốc)

09. Điện Biên có rất nhiều đại gia - cũng là tỉnh đầu tiên có xe “Chuyên cơ mặt đất” lần đầu tiên ra mắt tại Việt Nam đã chính thức lăn bánh trên lộ trình từ Điện Biên về Hà Nội và ngược lại.

10. Nhất Thanh, nhì Lò, tam Than, tứ Tấc” cánh đồng Mường Thanh (Điện Biên) nổi tiếng về diện tích mênh mông, với điều kiện thâm canh thuận lợi, cánh đồng Mường Thanh mang đến cho đời những hạt ngọc thơm ngon đặc biệt với thương hiệu gạo Điện Biên nổi tiếng. Hạt gạo nhỏ, dẻo ngọt, hương thơm và có vị đậm đà.

11. Tỉnh Điện Biên có Thị xã Mường Lay nhỏ nhất cả nước - có 2 phường, 1 xã. Tổng dân số 12 nghìn người. Nơi đây có Lòng hồ thủy điện Sơn La với phong cảnh đẹp, trữ tình; có hội thi đua thuyền đuôi én, trải nghiệm dù lượn mỗi độ xuân về.

12. Cùng với các đoàn quân năm xưa, chúng ta quay trở lại những năm tháng hào hùng của dân tộc, với tiếng hò kéo pháo vang khắp núi rừng Tây Bắc trong đêm sương năm 1954. Điện Biên nay cũng là tỉnh duy nhất có "Tượng đài kéo pháo" ghi lại dấu ấn lịch sử chiến công hiển hách của quân và dân ta.

13. Điện Biên là 1 trong 10 tỉnh thuộc diện đặc biệt khó khăn. 84,8% dân số của tỉnh là nông dân, sống chủ yếu dựa vào canh tác nông nghiệp.
Nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế, hiện thực hóa mục tiêu đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 345/QĐ-UBND ngày 03/3/2023 phê duyệt Đề án phát triển du lịch tỉnh Điện Biên đến năm 2025, định hướng đến năm 2030./.
St

Tổng quan vùng văn hóa Tây Bắc     Tây Bắc theo cách hiểu truyền thống là một tiểu vùng gồm các địa phương thuộc các tỉn...
02/04/2024

Tổng quan vùng văn hóa Tây Bắc


Tây Bắc theo cách hiểu truyền thống là một tiểu vùng gồm các địa phương thuộc các tỉnh Điện Biên,Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình, Yên Bái và Lào Cai. Ngày nay tiểu vùng này thuộc vào vùng Tây Bắc mở rộng bao gồm hầu hết các tỉnh miền núi và trung du Bắc Bộ và các huyện phía tây Nghệ An và tây Thanh Hóa

I - Đặc điểm tự nhiên và xã hội

Tây Bắc, một vùng văn hoá, xứ sở hoa ban, quê hương xoè hoa, miền đất dịu ngọt của những thiên tình sử Tiễn dặn người yêu nhưng cũng đầy tiếng than thở của những thân phận người Tiếng hát làm dâu.

Tây Bắc là một miền núi cao hiểm trở. Các dãy núi chạy theo hướng Tây Bắc- Đông Nam, trong đó có dãy Hoàng Liên Sơn dài đến 180 km, rộng 30 km, cao từ 1500m trở lên, các đỉnh cao nhất như Phanxipăng 3142m, Yam Phình 3096m, Pu Luông 2.983m. Dãy Hoàng Liên Sơn, được người Thái gọi là "sừng trời" (Khau phạ), chính là bức tường thành phía đông và vùng Tây Bắc.

Nó nằm bên bờ phải sông Hồng, con sông mà tổ tiên người Thái gọi là Nậm Tao, nên ngày nay đoạn sông này còn có tên tiếng Kinh là sông Thao. Dòng Nặm Tao chiếm một vị trí quan trọng trong lịch sử thiên di của người Thái đen vào Tây Bắc. Theo sử huyền thoại Thái thì tổ tiên họ là Tạo Xuông – Tạo Ngần bay từ trên trời xuống và phải vượt qua con sông rộng, lắm sóng dữ, ghềnh thác. Qua con sông là đến địa phận của trần gian. Khó khăn là thế nên tên thần thoại của dòng Nặm Tao là dòng "Sông Đắng – sông Xối" (Nặm ta Khôm- Nặm Ta Khái). Còn theo các nhà dân tộc học thì dòng sông là con đường mà theo đó tổ tiên người Thái thiên di vào Việt Nam từ thế kỉ XI đến thế kỉ XIV.

Từ dòng Nặm Tao, người Thái tạt vào bên phải, chiếm lấy đất Nghĩa Lộ làm bàn đạp để rồi tiến mãi đến tận Điện Biên Phủ, giáp Lào. Đất ấy, tên Thái là Mường Theng tức Mường Trời và trở thành "cố đô" của nhiều đời tù trưởng. Vậy nên, dòng Nặm Tao hiển nhiên là địa đầu phía Đông và biên giới Lào là địa đầu phía Tây của vùng văn hóa Tây Bắc. Giữa hai điểm đó con sông Đà phát nguyên từ phía Bắc kẻ một đường chéo Tây Bắc - Đông Nam, đi qua đất Hòa Bình rồi hợp lưu với dòng Nặm Tao ở ngã ba Việt Trì để làm nên sông Cái - sông Hồng của châu thổ phì nhiêu. Trên đường đi, sông Đà - tên Thái là Nặm Tè - tiếp nhận lượng nước của biết bao suối nhỏ và cả một dòng sông Nặm Na hợp lưu với nó ở ngay tỉnh lị Lai Châu. Sát với biên giới Lào là dòng sông Mã chảy từ Điện Biên xuống đến phía Tây tỉnh Sơn La thì quặt sang đất Lào và trở về miền Tây Thanh Hóa để xuôi về biển. Vậy nên, đất Tây Bắc còn được đồng bào gọi là đất "ba con sông", tạo nên ba dải "nước màu: trắng, xanh, đỏ". Bởi vì sông Mã lắm thác ghềnh nên nhiều sóng bạc đầu. Lại còn có truyền thuyết dòng sông là nữ thần canh giữ mỏ bạc mà xưa kia người Thái - La Ha thường khai thác. Dòng Nặm Tè (sông Đà) chảy giữa các triền núi đá grannít, sâu thẳm xanh đen một màu. Còn dòng Nặm Tao mang nặng phù sa thì chính người Kinh cũng gọi là sông Hồng. Ba con sông tự nhiên nhưng trở thành biểu tượng riêng của vùng đất. Chúng lại có ba màu của nắng, của cây và của đất. Chúng biến thành những tín hiệu văn hóa vùng mà người dân bản địa lấy đó làm tự hào, để phân biệt với người vùng muối (Kinh), người vùng sông Lô, sông Chảy (Tày, Nùng) v.v...

Từ dưới xuôi đi lên phải qua đất tỉnh Hòa Bình, xưa kia phải vượt sông Đà ở bến chợ Bờ và Suối Rút, rồi phải leo gần 100km đèo mới đến được cao nguyên Mộc Châu, cao 800-1000m. Phải lên đến đấy mới bước chân vào vùng Tây Bắc, nơi mà hoa ban nở trắng rừng, xen lẫn với thông reo vi vút và những rừng tre vầu ống lớn, cây cao Chẳng thế mà Mộc Châu có tên Thái là Trảng Tre – Trảng Ban (Phiêng Xang - Phiêng Ban). Từ cao nguyên "Tre Ban" đổ xuống thung lũng hẹp Yên Châu để rồi leo qua dãy Chiềng Đông lại đổ xuống Nà Sản mà về Sơn La.

Từ Sơn La phải vượt dãy Pha đến (nơi ngăn cách Trời - Đất) đến ngã ba Tuần Giáo, rẽ trái vào Điện Biên, đi thẳng thì lên Lai Châu. Từ đây ngược nữa lên phía phải để đến đất Sìn Hồ của dãy Hoàng Liên Sơn, hãy men theo chân nó đi lên biên giới phía Bắc. Nếu ngược nữa lên phía trái là đến Mường Tè có bản Mường Nhé, nơi con gà gáy ba nước Việt - Lào - Trung đều nghe. Hành trình vừa kể trên chính là trục dọc của vùng văn hoá Tây Bắc.

Dẫu rằng cũng nằm trong vòng đai nhiệt đới gió mùa, nhưng do ở một độ cao từ 800-3000m nên khí hậu ngả sang á nhiệt đới và nhiều nơi cao như Sìn Hồ có cả khí hậu ôn đới. Đã thế, địa hình lại chia cắt bởi các dãy núi, các dòng sông, khe suối, tạo nên những thung lũng, có nơi lớn thành lòng chảo như vùng Nghĩa Lộ, Điện Biên. Do vậy, Tây Bắc còn là nơi có nhiều tiểu vùng khí hậu. Trong lúc đó ở thung lũng Mường La, người ta mặc áo ngắn tay giữa mùa đông thì ở Mộc Châu phải mặc áo bông dầy mà không khỏi rét. Nhưng chính vì vậy mà thiên nhiên Tây Bắc rất đa dạng, thổ nhưỡng nhiều loại hình. Dân số thấp, năm 1978 mới có 59ng/km2. Với tỉ lệ tăng 3,5%/năm cộng với việc di dân, đến năm 1990 cũng chỉ có 120 người/km2. Cư dân cổ truyền, những chủ nhân từ xa xưa của Tây Bắc, đều làm công nghiệp với hai loại hình : ruộng nước ở thung lũng, và nương rẫy ở sườn núi. Câu ngạn ngữ Thái đã nói :

Xá ăn theo lửa
Thái ăn theo nước
H'mông ăn theo sương mù.

Người Thái, tộc người đa số trong vùng, làm ruộng nước trong các thung lũng, các vùng lòng chảo. Người Mường và một bộ phận người Dao cũng thế. Nhưng ngay những tộc người này cũng phải làm thêm nương rẫy thì mới đủ sống. Người Xá, theo tên gọi miệt thị xưa, bao gồm nhiều tộc khác nhau như Khơmú, Laha, Kháng, Mảng, Xinhmun... Họ làm nương theo phương pháp thô sơ : phát rừng, đốt lấy tro, chọc lỗ tra hạt. Còn người H'mông thường ở núi cao, cũng phát rừng, nhöng lại biết dọn gốc, cày xới làm nương thâm canh. Ruộng và nương chỉ giải quyết được lương thực và một phần rau xanh. Thịt, cá, rau và cả lương thực khi mất mùa, đều còn phải trông vào hái lượm, săn bắt. Chẳng thế mà đồng bào có câu:

Cơm, nước ở mặt đất
Thức ăn ở trong rừng

Tây Bắc thực ra là tên gọi theo phương vị, lấy Thủ đô Hà Nội làm điểm chuẩn, hiện tại là địa bàn gồm bốn tỉnh Lai Châu, Lào Cai, Sơn La, Yên Bái. Khi nói đến vùng văn hóa Tây Bắc thì phải kể một phần tỉnh Hoà Bình nữa. Năm 1955 đổi thành khu tự trị Tây Bắc, vì tên cũ Khu Tự trị Thái Mèo không phản ánh hết tên của gần hai chục dân tộc sinh sống ở đây. Chỉ kể những dân tộc tương đối đông dân ta đã có Thái (với các ngành Đen, Trắng, Đỏ). H'mông với các ngành Trắng, Xanh, Đen, Hoa, Dao (với các ngành Quấn chẹt, Nga Hoàng, Dao đỏ), Mường, Khơmú, Laha, Xinhmun, Tày... Ngoài ra, còn có một bộ phận người Kinh vốn là con cháu nghĩa binh Hoàng Công Chất đã sống lâu đời ở đây, và một bộ phận người Hoa, vốn là dòng dõi quân Lưu Vĩnh Phúc. Mỗi dân tộc đều có văn hóa mang bản sắc riêng. Quả là khó khi muốn nói về văn hoá cả vùng với một quần thể cư dân đa dạng như thế. Nhưng dẫu sao tính chất vùng của văn hóa Tây Bắc vẫn được hiện ra lồ lộ không thể phủ định được. Cần phải ngược dòng lịch sử, nhưng không thể quá xa vì chẳng lấy đâu ra chứng cứ. Vả chăng, chỉ cần phạm đến đầu công nguyên là đã bắt gặp các văn hóa cơ tầng của miền đất này rồi.

Thuở ấy cư dân Tây Bắc vẫn là một bộ phận của nền văn minh đồng thau Đông Sơn với trống đồng và công cụ bằng đồng, những thứ mà ngày nay đã trở thành vật thiêng, chỉ dùng trong các nghi lễ thờ cúng tổ tiên. Trong số cư dân ấy, người Kháng có tục uống nước bằng mũi (Ta mui). Nước măng chua, hòa tỏi, rau thơm, gạn lấy nước, đổ vào vỏ quả bầu mận, cho chảy vào mũi, trong lúc ấy miệng thì nhai cá hay thịt. Cách uống này vẫn còn thấy ở người Kháng sống ở ven sông Đà, phía bên Tà Xại, Sơn La. Đặc biệt người Kháng rất giỏi làm thuyền độc mộc. Người Thái phải công nhận "Thuyền tốt không gì bằng thuyền Kháng".

Còn người Laha thì mãi đến ngày nay vẫn được người Thái tôn sùng vì được coi là chủ nhân trống đồng. Bởi vì cả người Laha lẫn người Thái đều có trống đồng làm vật thiêng, có thần trú ngụ trong đó. Người Laha cũng nổi tiếng về hội lễ "Mừng mùa măng mọc" với điệu múa thực khí sinh động, rộn ràng trong tiếng đệm của một đàn ống tre rỗng, gõ trên tấm ván với những cô gái nhún nhảy múa.

Đến những năm 60 của thế kỉ này người Mảng vẫn còn bảo lưu xăm những chấm, những vòng tròn có chấm ở giữa, quanh miệng và cằm. Vì thế người Thái gọi họ là "Xá cằm hoa" (Xả công Lái), tức người Xá cằm xăm hoa.

Tất cả những nét đặc trưng như trống đồng, thuyền độc mộc, nhạc cụ tre nứa, tục xăm mình, đều như phảng phất những gì đã từng được sách chữ Hán cũng như các truyền thuyết nói về xứ sở của các vua Hùng.

"Vào khoảng thế kỉ XI-XII, một bộ phận tổ tiên ngành Thái đen... do Tạo Ngần thiên di xuống chiếm miền Mường Lò mà Người Kinh cũng vậy, họ gọi là Đông cổ thần cánh đồng Nghĩa Lộ là trung tâm". Cháu Tạo Ngần là Lạng Chượng cầm binh đánh thắng dần các bộ tộc Nam á từ Nghĩa Lộ qua Sơn La và tới Điện Biên..., cuộc hành trình của Lạng Chượng mở đầu "giai đoạn bọn thống trị Thái làm chủ miền Tây Bắc"

Theo sách dã sử và truyền thuyết của chính người Thái, Lạng Chượng phải chật vật lắm mới thắng nổi quân Nam á. Truyền thuyết Thái kể rằng : "Quân Xá" (tức Nam á) có tên làm bằng đồng sắc nhọn, quân Thái chỉ có tên tre. Lạng Ch­ưng mới lập mưu thách nhau bắn xem tên ai cắm vào đá là thắng Quân Xá bắn tên đồng vào đá thì bật ra. Quân Thái nạp cụm sáp ong vào đầu tên tre nên bắn vào đá thì dính. Quân Xá" chịu thua, phải để quân Thái chiếm đất, còn quân Xá phải chạy vào rừng sâu mà ở.",

Truyền thuyết cũng kể rằng quân Xá thua, chẳng những mất đất mà còn phải dâng trống đồng cho quân Thái. Từ đấy các dân tộc Nam á suy thoái dần, nền văn hóa huy hoàng thuở ấy bị mai một rất nhiều. Ngày nay, trong văn hóa của họ đã có nhiều yếu tố Thái. Chẳng hạn, họ đã hoàn toàn quên mất nền âm nhạc của mình mà chỉ còn biết sử dụng các làn điệu lí Thái để hát. Ngược lại, người Thái lại học được rất nhiều từ văn hóa của những người bản địa chiến bại, khiến cho văn hoá Thái (đặc biệt là Thái Đen), Tây Bắc loại biệt hẳn với văn hoá những người anh em chung cội nguồn của họ nh­ người Tàu phía Đông và người Lào phía Tây. Chính quá trình hỗn dung và tiếp biến văn hóa đó đã tạo nên sắc thái vùng văn hóa Tây Bắc, thông qua văn hóa Thái là chủ thể.

Từ mươi thế kỉ trở lại đây, với vai trò chủ thể trong lịch sử phát triển của vùng, văn hóa Thái (với những yếu tố diễn biến từ văn hóa Đông Nam á nổi lên như một sắc thái đại diện cho văn hóa Tây Bắc.

Trước hết xin bắt đấu từ văn hóa "đời thường". Từ cao nguyên Mộc Châu xuôi xuống thung lũng Yên Châu ở phía Bắc là đã bắt gặp những ngôi nhà sàn ẩn hiện những dãy cây xoài, rặng chuối. Nhà sàn Thái có cái mái đầu hồi khum khum hình mai rùa, trên đỉnh đầu hồi ấy có hai vật trang trí, người Thái gọi là "Sừng cuộn" (Khau cút) vì đầu phía trên của nó thường được thao tác thành một vòng tròn xoáy trôn ốc, giống như ngọn rau đớn (Phắc cút), một thứ rau rừng rất được đồng bào ưa chuộng. Bản Thái th­ờng nằm ở ven đồi, chân núi, nhìn ra cánh đồng. ở đấy thế nào cũng có ít nhất một dòng suối to nhỏ tùy nơi. Bản nào ở chân núi đá thì hay dùng mạch nước ngầm làm nước ăn, gọi là "Mỏ nước" (Bó nặm). Văn hóa nông nghiệp thung lũng Thái nổi tiếng vì hệ thống tưới tiêu, được gói gọn dốc của dòng chảy, người ta lấy đá ngăn suối làm nước dâng cao, đó là cái "phai". Phía trên "phai" xẻ một đường chảy lên dẫn vào cánh đồng, đó là "mương" Từ "mương" xẻ những rãnh chảy vào ruộng, đó là "lái". Còn "lịn" là cách lấy nước từ nguồn trên núi cao, dẫn về ruộng, về nhà, bằng các cây tre đục rừng đục mấu, nối tiếp nhau, có khi dài hàng cây số. Người Kinh vùng núi Phú Thọ (cũ) học theo cách làm này và gọi chệch đi là "lần nước". Do chủ động tưới tiêu nên người Thái nuôi cá ngay trong mực nước của ruộng lúa. Gặt lúa xong là tháo nước bắt cá. Cá nuôi trong ruộng vừa ăn sâu bọ cỏ dại, vừa sục bùn cho tốt lúa. Cho nên, món dâng cúng trong lễ cơm mới bao giờ cũng có xôi và cá nướng. Và món cá là biểu hiện lòng hiếu khách :

Đi ăn cá, về nhà uống rượu
ở thì ngủ đệm, đắp chăn ấm

Những dòng suối còn đóng vai trò quan trọng trong tâm linh con người. Suối được coi là vật nữ tính : "con suối" (Me nặm). Suối lại là nơi trú ngụ của thần nước, thường ở những đoạn nước cuốn thành vực (Vắng năm). Hàng năm, khi làm lễ cúng bản (Xên bản) vào mùa xuân, người ta tổ chức ngay trên bờ vực nước đó. Có một tâm thức tín ngưỡng với nước là đặc điểm chung của các tộc người làm nông nghiệp. ở người Thái, tâm thức đó được thể chế hóa bằng hình tượng thần nước dưới dạng thuồng luồng và bằng các lễ cụ thể. Con suối và cánh đồng, những sản phẩm sáng tạo và chiếm lĩnh của con người cũng đã đi vào thơ ca, âm nhạc như những hình tượng đẹp của cảm xúc thẩm mĩ như lời bài dân ca sau :

Đêm trăng sáng
Tâm hồn em như muốn phiêu diêu
Chơi tha thẩn bên bờ cát trắng
Bờ cát trắng lấp lánh ánh trăng
Chờ tiếng sáo anh
Luồn qua sương, luồn qua chân núi
Đến với em trong ánh trăng ngời ngài.

Nương rẫy là một bộ phận bổ sung không thể thiếu với n­ơng, đồng bào có lúa, rau quả như bầu bí, rau cải, đậu, đu đủ, vừng, kê, ớt,.v..v... Bông và chàm cũng trồng trên nương. Và rừng, rừng bạt ngàn là nơi con người hái rau rừng, lấy thuốc chữa bệnh, thuốc nhuộm, săn bắt thú rừng và khi thất bát mùa màng thì chính rừng, với củ mài, bột báng đã cứu họ khỏi chết đói. Bản làng có một thái độ rất kính trọng với rừng. Chẳng phải vì rừng có ma thiêng, mà vì rừng là nơi con người nương tựa để tồn tại. Luật Thái có hàng chục điều quy định về việc khai thác rừng, săn bắn thú, đặc biệt là những quyết định về bảo vệ rừng đầu nguồn.

Người Thái bảo vệ rừng ban không chỉ vì nó là biểu tượng văn hóa của quê hương họ, mà còn vì chỉ có ban mới mọc được. ở nơi đất cằn nhờ có ban giữ lại mùn tự trên cao chảy xuống, mà đất cằn tái sinh, mà mùn rác không lấp ruộng, nghẽn suối, mà nước mưa ngấm vào lòng đất ngăn những cơn lũ ống. Chỉ riêng cách ứng xử với cây ban cũng đủ thấy đặc trưng văn hóa Thái nói riêng, Tây Bắc nói chung có một trình độ khoa học thế nào, có tính nhân văn ra sao trong cái nhìn sinh thái học. Chẳng riêng gì ng­ời Thái, con người H'mông trên núi cao, người Khơmú, người Dao, người Kháng, Laha v.v.. ., trong rừng sâu đều tự nguyện tuân theo luật Thái. Điều đó không đơn thuần vì giai cấp thống trị Tây Bắc trước kia là thuộc tộc Thái, mà điều quan trọng là ở chỗ, đây cũng là quyền lợi lâu dài của tất cả các dân tộc trong vùng.

Cũng như hầu hết các dân tộc trong vùng, người Thái sống chân thật, giản dị và rất hòa thuận. Trong gia đình, trong bản không bao giờ thấy người ta to tiếng với nhau. Đặc biệt không bao giờ trẻ con bị mắng mỏ nặng lời, chứ không nói đến việc bị đánh đòn. Trẻ con hiểu nhiệm vụ của chúng và rất tự giác thực hiện. Chúng có sai sót gì, người lớn chỉ nhắc nhẹ. Trẻ em rất ngoan, chúng chơi đùa với nhau rất thân ái. Gặp lúc khó khăn, đói kém người ta đến họ hàng xin lương thực. Người được hỏi xin sẵn sàng chia sẻ số lương thực còn lại, dù biết rằng sau đó chính họ cũng sẽ lâm vào cảnh thiếu đói và cũng phải lên rừng đào củ mài, củ bới thay cơm. Ngay bây giờ, khi nền kinh tế thị tr­ờng đã có tác động vào đời sống cư dân Tây Bắc, thì phong tục này vẫn được thực hiện với tấm lòng vị tha và tình nghĩa sâu đậm.

Nhân đây cần nói ngay rằng nếp sống hòa thuận, tôn trọng người già, thương yêu con trẻ và giúp đỡ nhau vô tư là đặc điểm chung của các dân tộc trong vùng Những kì thị dân tộc không phải không có, nhưng rất hiếm và phần nhiều là cách đánh giá của giới quý tộc Thái, còn giữa những người lao động thì hầu như không có. Cho nên, khi đói kém, anh em H'mông ở núi cao xuống, bà con Khơmú, Mảng trong rừng sâu ra, bản Thái sẵn sàng chia sẻ. Ngược lại, cũng có năm, bản Thái lượt kéo nhau lên núi cao để khi về kĩu kịt những tặng phẩm của bà con người H'mông. Vào những năm tháng kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, đồng bào Thái lại đ­ợc anh em các dân tộc Nam á giúp đỡ tận tình ở nơi sơ tán. Nhìn nhận hiện tượng này, các nhà kinh tế học cho rằng đó là hệ quả của một xã hội chưa biết đến thương nghiệp với vật ngang giá là đồng tiền. Cũng có thể là như vậy. Nwng nếu tiếp cận từ góc nhìn văn hóa thì cũng phải công nhận đây là một thuần phong mĩ tục trong quan hệ giữa người các dân tộc với nhau. Nếu không thế thì không thể giải thích được, vì sao ngày nay trong cơ chế kinh tế thị trường, phong tục truyền thống vẫn được giữ vững và sẽ không hiểu thế nào được sự tồn tại suốt mấy chục năm của các "quán tự giác" trên khắp nẻo đường Tây Bắc. Đồng bào treo chuối, mía, trứng, để giá tiền vào từng loại, khách qua đường tự lấy ăn rồi bỏ tiền vào cái túi vải treo cạnh đó. Khách có tiền lớn thì có thể đổ tiền trong túi ra, tự lấy tiền thừa rồi bỏ tiền của mình và số tiền sẵn có của quán hàng trở lại vào túi. Chủ quán không có mặt, nhưng chẳng ai dám cả gan ăn cắp - kể cả những lái xe người Kinh thích đùa đi qua đường.

Các dân tộc trong vùng đều có tín ngưỡng "mọi vật có linh hồn" (animisme), một loại tín ngưỡng mà mọi dân tộc. trên hành tinh đều trải qua. Có đủ loại "hồn" và các loại thần sông núi, suối khe, đá, cây, súc vật, các lực lượng thiên nhiên như sấm, chớp, mưa, gió. Các bộ phận trên thân thể con người cũng có hồn. Người Kinh cho rằng có ba hồn bảy vía (nam) và ba hồn chín vía (nữ). Người Thái có đến 80 hồn (Xam xếp khoăn mang nả. Hả xếp khoăn mang lăng), như hồn tóc, hồn lông mày, lông mi, tai, mũi, trán v.v... Người chết không biến mất mà trở về sống ở bản của tổ tiên. Do chỗ mọi vật đều có hồn, nên cần phải cư xử với chúng như trong quan hệ với người. Vậy có hồn tốt, hồn xấu, hồn ác, hồn lành tùy thuộc vào cách đối xử của người với chúng. Vào hoàn cảnh xã hội cổ truyền thì đây là cách chiếm lĩnh thiên nhiên và thực tại của đồng bào, với hi vọng có thể nói chuyện", có thể "thương lượng thậm chí khi cần thì cầu xin chúng. Bằng cách đó, đồng bào thiết lập được mối quan hệ với mọi vật và với tổ tiên, đặt con người vào tống thể môi trường không gian và thời gian, tạo nên một cân bằng trong tâm thức. Con người hội tụ vào cuộc sống hiện hữu của mình các miền thời gian : quá khứ, hiện tại, tương lai; và các chiều không gian, thiên nhiên, môi trường, con người, xã hội. Đó chính là mối quan hệ đa diện, đa phương đảm bảo cho tính hợp lí và sự ổn định tất yếu của cuộc sống con người. Thiết tưởng, với trình độ khoa học kĩ thuật chưa phát triển thì cách nhận thức thế giới theo phương pháp huyền thoại, tín ngưỡng này không phải không có tác dụng tích cực cho sự tốn tại của cộng đồng và con người.

Văn hóa nghệ thuật, lĩnh vực văn hóa thể hiện cái nhìn thẩm mỹ của nhân dân Tây Bắc có nhiều nét độc đáo và trở thành một trong những dấu hiệu làm nên đặc trưng văn hóa vùng. Riêng về lĩnh vực này đã phải cần đến một công trình lớn mới có thể trình bày cho cặn kẽ được. Cho nên, một vài điều nêu ra đây may mắn lắm cũng chỉ là những nét chấm phá vào một toàn cảnh lớn lao, hoành tráng và mang đậm tính dân gian. Trong xã hội cổ truyền Tây Bắc, văn hóa chuyên nghiệp, bác học chưa xuất hiện. ở người Thái tuy đã có một vài nghệ nhân giỏi sáng tác thơ ca nổi tiếng và mặc dầu dân tộc này có chữ viết cổ, nhưng tác phẩm của họ vẫn lưu truyền chủ yếu bằng phương thức truyền miệng. Mỗi dân tộc trong vùng đều có một kho vốn sáng tác ngôn từ giàu có và đủ thể loại từ tục ngữ, thành ngữ, đồng dao, giao duyên, cho đến lời khấn, lời bùa chú, các áng văn trong lễ tang, trong lễ hội, các bài văn vần dạy bảo đạo đức cho dâu rể trong đám cưới, các thần thoại, đồng thoại, cổ tích, truyện cười v.v... ở một số dân tộc có cả truyện thơ dài hàng ngàn câu như Tiễn dặn người yêu (Thái), Tiếng hát làm dâu (H'mông), Vườn hoa núi Cối (Mường) v.v... Người Thái còn có cả truyện thơ lịch sử, kể lại quá trình thiên di của họ vào Tây Bắc như bản sử ca Dõi theo bước đường chinh chiến của ông cha (Táy pú Xớc) hay Lịch sử bản mường (Quán tố mướng) ngay đến lời hát của các Mo-then trong lễ cúng người ốm cũng là một áng du kí ca đầy hình tượng đẹp được diễn tả bằng văn phong trau chuốt. Bộ phận người Mường Tây Bắc cũng có những thiên sử thi như ở Hòa Bình, Thanh Hóa. Ngoài ra, do đã tách ra từ mấy thế kỉ và sống giữa những cộng đồng tộc người khác, nên người Mường Tây Bắc còn có những áng văn hiếm thấy ở các vùng Mường như "vườn hoa - Núi cối" chẳng hạn. Các truyền thuyết của từng dân tộc, một mặt khẳng định nguồn gốc của họ với những nhóm đồng tộc cư trú ở các vùng văn hóa khác ; mặt khác lại gắn bó với vùng đất và trình diễn lịch sử của họ trên mỗi đất miền này, và góp phần làm nên dấu hiệu đặc trưng của vùng văn hóa Tây Bắc. Có thể gặp những truyền thuyết như thế trên từng bước chân. Đây là nơi chúa Thái và chúa Xá thì bắn xem tên ai xuyên vào đá, kia là nơi Nàng Han (một Gianđa Thái) tắm (Suối Nàng Han). Dãy núi ba chỏm kia là thi hài hóa đá của ba dũng tướng quên mình bảo vệ quê hương v.v.. .. Và đặc biệt là những truyền thuyết về hoa ban, dân tộc nào cũng có và cũng thắm đượm tình người. "Xòe" là đặc sản nghệ thuật múa Thái và trở thành biểu tượng văn hóa Tây Bắc. Người Thái có Xòe vòng quanh đốm lửa, quanh hũ rượu cần với sự tham gia đông đảo của già trẻ, gái trai trong tiếng chiêng trống rộn ràng. Nhưng cũng có Xòe điệu của người Thái trắng ven sông Đà suốt từ Ngọc Chiến, Quỳnh Nhai lên đến Lai Châu, Phong Thổ. Tương truyền có đến 32 điệu xòe do các cô thanh nữ múa trong tiếng tính tang dịu dàng của hai chàng trai. Xoè vòng sôi nổi bao nhiêu thì xòe điệu nhẹ nhàng, tinh tế bấy nhiêu. Người H'mông nổi tiếng về các điệu múa khèn, đá châm hùng dũng của nam giới. Người Khơmú và Xinhmun lại độc quyền điệu múa lắc mông, lượn eo. Còn điệu Tăng bu (dỗ ống) là sở hữu của người Laha. Và đến với người Mường thì phải được xem múa bông. Riêng điệu múa Xạp, trừ người H'mông còn dân tộc nào trong vùng cũng có, mỗi nơi một vẻ riêng. Có thể xem nghệ thuật múa dân tộc là một nét đặc trưng của vùng Tây Bắc.

Dường như có một sở thích âm nhạc chung cho hầu hết các dân tộc Tây Bắc, một sở thích không thấy hoặc ít thấy ở các vùng khác. Đó là hệ nhạc cụ hơi có lưỡi gà bằng tre, bằng đồng hay bằng bạc. Nếu sưu tầm và gộp chung lại thì có đến vài chục loai hình thuộc hệ nhạc cụ này. Nhiều loại đã được cả nước biết đến như Pí pặp, khèn bè Thái, sáo và khèn H'mông. Ngoài ra, mỗi dân tộc đều có bản sắc riêng như cây Tính Tảu Thái, đống ôi Mường, chưn may Khơmú, đàn tròn và đàn ba dây Hà nhì v.v . . . ở nhiều dân tộc khác, thơ ca Tây Bắc được sáng tác để hát, chứ không phải để đọc. Những truyện thơ, những áng sử thi được trình diễn bằng cả những liên khúc âm nhạc mà nhiều bài trích ra từ đó đã được cả nước biết đến như bài "inh lả ơi" chẳng hạn .

Nét chung nữa trong văn hóa Tây Bắc là sở thích trang trí trang phục, chăn màn, đồ dùng với các sắc độ của gam màu nóng ; rất nhiều màu đỏ, xen vào với vàng tươi, vàng đất, vàng rơm, rồi da cam, tím và nếu có xanh thì phải là xanh da trời tươi Phải chăng giữa mênh mông xanh lá cây, những màu ánh lên như những điểm sáng, khẳng định sự có mặt của con người ? Còn họa tiết, bố cục, phối màu của trang trí thì rất nhiều và phong phú, đến nỗi chỉ một chiếc khăn piêu Thái, một bộ nữ phục H'mông, Lô Lô, Dao đỏ, một mặt chăn Mường, một điểm màn Kháng cũng đủ tầm cỡ để phải làm riêng một chuyên khảo . Những nét chung của cả vùng không hề làm mất đi tính riêng của văn hóa dân tộc. Thậm chí, cùng một cốt truyện, ở mỗi dân tộc vẫn có thể tìm thấy cái riêng. Lấy một chuyện bi tình sử có ở nhiều dân tộc Tây Bắc làm ví dụ : "một đôi trai gái yêu nhau nhưng vì lý do nào đó họ không lấy được nhau và cùng tự tử chết". Truyền thuyết của các dân tộc khác nhau, đương nhiên sẽ kết thúc khác nhau. Hẳn là những nét phác họa ở đây nhiều lắm cũng chỉ là gợi mở về một vùng văn hóa đa dạng và độc đáo hi vọng rằng có thể dẫn dắt chút ít cho những ai muốn tìm hiểu sâu thêm về vùng văn hóa Tây Bắc.

http://taybac.vnu.edu.vn/

Tác giả: spadmin

Address

Hoan Kiem
Hanoi
100000

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Non Nước Việt Nam posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Business

Send a message to Non Nước Việt Nam:

Share