25/02/2016
Các bạn đi chùa đã biết cách hành lễ? Hãy cùng Du Lịch Nón Xanh Việt Nam tìm hiểu cách hành lễ khi đi chùa và lễ bái sao cho đúng cách nhé .... trước giờ mình toàn làm sai thôi à....
Trong nghi lễ Phật giáo Việt Nam thuộc phái Ðại thừa (Bắc Tông) có nhiều khía cạnh tổ chức:
lễ nhạc (âm thanh êm ái), lễ tụng (giọng Thiền, giọng ai), lễ khí (nhạc cụ, pháp khí), lễ phục (y, mão), lễ đường (nơi hành lễ), lễ nghi (bày biện, tác phong), lễ bái (lạy); Trong phạm vi lễ bái xin được trình bày như sau:
I . Ý NGHĨA VÀ LỢI ÍCH CỦA LỄ BÁI
A/ Tổng quát: Lạy Phật tức là bày tỏ lòng tôn kính và ngưỡng mộ của mình đối với bậc Giác Ngộ. Ngoài ra còn có khả năng tiêu diệt lòng tự cao, tự đại ngã mạn của mình, và rạp mình trước một niềm tin tưởng tuyệt đối để biểu lộ sự chí thành, chí kính với đức Phật, tức là với chính mình vậy. Lạy Phật có 4 cách:
1/ Lạy nép thân mình sát đất (ngũ thề đầu địa): cách lạy này là làm tiêu diệt tâm kiêu mạn của mình và biểu lộ lòng tôn kính đối với đức Phật. Ngũ thể là 5 bộ phận trong con người: 2 tay, 2 chân và đầu. Khi lạy thì 5 bộ phận nầy phải từ từ gieo xuống chạm sát mặt đất. Khi lạy theo cách nầy phải phát nguyện lớn như trong kinh Hoa Nghiêm Tùy Sớ Diễn Nghĩa đã dạy như sau:
-Khi gối phải con quỳ xuống đất, nguyện cho chúng sanh theo đường chánh giác.
-Khi gối trái con quỳ xuống đất, nguyện cho ngoại đạo bỏ hết tà kiến theo về chánh đạo.
-Khi tay phải con chống xuống đất, nguyện được vững chắc như Phật ngồi tòa Kim Cương, hiện điềm lành chứng đạo Bồ Ðề.
-Khi tay trái con chống xuống đất, nguyện các chúng sanh khó điều phục xa lìa ngoại đạo, dùng tứ nhiếp pháp (bố thí, nói năng êm dịu, làm việc lợi ích, đồng tâm, đồng sức cùng sống thân mật với nhau) mà đưa nhau gần vào chánh đạo.
-Khi đầu con sát đất, nguyện cùng chúng sanh bỏ tâm kiêu mạn, thành tựu đạo Vô Thượng Bồ Ðề.
2/ Lạy úp mặt vào tay (đầu diện tiếp túc quy mạng lễ): tức là lạy ôm chân Phật, tỏ lòng thành kính vô cùng, xem như đang ôm lấy chân Phật.
a/ Chính trí tương ứng: (Lạy phải đúng nghi thức, với tấm lòng hết sức chân thành).
Khi lạy thân mình nghiêm chỉnh, ăn mặc đàng hoàng, tâm tưởng , ý suy với mục đích duy nhất: lạy Phật, nhất trí tiến tu, không cầu, không chứng. Lạy như vậy là chánh pháp cùng chí hướng tương quan với nhau nên gọi là chính trí tương ứng. Trái lại, thường vấp phải các lỗi như sau.
b/ Khinh mạn tương ứng: Khi lạy Phật thân không nghiêm chỉnh, ý không thanh tịnh, tâm tán loạn, chỉ lạy như cái máy, miệng khấn vái lung tung, cầu xin loạn xạ. Thân, tâm, ý đều khởi lên những động tác bất kính, khinh mạn nên gọi là khinh mạn tương ứng.
c/ Tạp giác tương ứng: Khởi đầu ăn mặc chỉnh tề, tâm ý thanh tịnh, nhưng vì giác quan thâu nhiễm cảnh trần phức tạp (mắt nhìn người nọ, liếc kẻ kia), dấy lên những tâm tưởng e thẹn, ngần ngại nên phát xuất ra động tác lạy Phật ngượng nghịu, sượng sùng, miễn cưỡng nên gọi là tạp giác tương ứng.
3/ Lạy dập trán xuống đất 3 lần (tam khấu đầu): Ðó là cách lạy thông thường, xem như "nhất tâm đảnh lễ", 3 lần dập trán xuống đất là biểu hiện lòng thành khẩn và sự cung kính đối với Tam Bảo.
4/ Lạy đứng: Trong kinh Ðại Phương Quang Bảo Kháp có chép rằng: "Bậc Thanh Văn tên là Trí Ðăng hỏi ngài Văn Thù Sư Lợi rằng: Lạy Phật phải lạy như thế nào?- Ðáp: Nếu thấy kinh, sách phải coi như thấy Phật, thân phải nghiêm chỉnh, không nghiêng, không vẹo, không lay, không động. Tâm phải vắng lặng không khởi lên một mảy may phiền não. Dù đứng mà lạy nhưng với sự thành kính, tịch tĩnh như thế chính là lạy Phật." Như vậy chúng ta đứng nghiêm chỉnh, khởi lên ý niệm tôn kính tự tâm, khiến tâm tĩnh lặng hướng về đức Phật cũng không kém phần lợi lạc.
Trong kinh Nghiệp Báo Sai Biệt có phân tích đến lợi ích của sự lạy Phật như sau: "Lạy Phật một lạy thì từ đầu gối trở lên đến đầu đều có ngôi Chuyển Luân Thánh Vương hiển hiện phò trì và cũng có được 10 thứ công đức như sau:
1-Tự mình có được sắc thân tươi đẹp nhiệm mầu
2-Lời mình nói ra ai nấy đều tin.
3-Ðối với mọi người dù ác độc, mình không sợ hãi.
4-Chư Phật thời thường gia hộ phò trì.
5-Tự mình có đầy đủ oai nghi, được mọi người kính mến.
6-Mọi người thảy đều muốn làm quen giúp đở.
7-Chư Thiên đều yêu kính.
8-Ðầy đủ các điều phúc đức, hưởng mọi thanh nhàn.
9-Khi chết nhận định được vãng sanh.
10-Tự mình chứng quả vắng lặng Niết Bàn.
B/ Phân tích việc lạy Phật về SỰ và LÝ.
Theo kinh điển có 7 loại lạy Phật, 3 loại thuộc về SỰ và 4 loại thuộc về LÝ
a/ Ba (3) loại thuộc về SỰ là:
1-lạy Phật mà còn tính cách ngã mạn: Người theo đạo Phật vào lạy Phật nhưng chưa chịu nén lòng, đè khí (đê tâm, hạ khí), mà còn giữ tính tự cao, tự đại cố hữu, hoặc vì bất đắc dĩ, phép lịch sự mà phải lạy, e ngại, bỡ ngỡ, tuy có ý cung kính nhưng cũng chỉ nhất thời, lạy không đúng cách, chấp tay hoặc chân đứng không đúng phép, ý nghĩ lung tung, van xin khấn vái loạn xạ, tưởng như vậy là Phật thương Phật độ. Nhưng kinh Hoa Nghiêm, thiên Khổng Mục, Phật dạy: "kẻ lạy như vậy là chưa dẹp được lòng ngạo mạn, tội nhiều phúc ít". Do đó người cư sĩ Phật tử khi lạy Phật phải đem hết tâm trí, phải không còn một chút mảy may lòng ngã mạn, dồn hết tâm trí vào việc lạy Phật mới mong có lợi lạc.
2-Lạy theo người xướng họa: Ðó là lạy Phật vì bị thúc đẩy bởi người khác hay một động năng bên ngoài, lạy không theo nghi thức, không có oai nghi, tâm không tịnh, ý không tập trung, lạy với tính cách khoe khoang, hoặc thấy người lạy thì mình lạy theo, nghe người xướng thì mình lạy còn tâm tư thì nghĩ tận đâu đâu, không có một chút gì là để ý tới việc đang lạy Phật cả. Lạy như vậy là để cho có việc, cho xong việc và hành động không hợp nghi thức nên công đức tự sút giảm rất nhiều.
3-Lạy với thân tâm cung kính: Tức là tự mình lạy Phật hay nghe người chủ lễ xướng, thì tự tâm mình khởi ngay ý niệm tưởng tới đức Phật, tất cả thân tâm đều biểu hiện hình tướng trang nghiêm hết sức cung kính. Lúc nầy 6 căn thanh tịnh, 6 thức quy về một niệm là tinh tấn, lạy với tất cả tấm lòng thành kính vô biên. Như vậy là toàn thân kính lạy, nhứt tâm quy mạng, công đức nhờ đó mà phát sinh.
b/ Bốn (4) loại thuộc về LÝ: (căn cứ vào sự suy luận nguyên nhân)
1-Phát hiện trí thanh tịnh mà lạy: Là tâm trí mình thông suốt mọi cảnh giới, tâm cảnh tương ứng, lạy đức Phật mà chính là lạy điểm "trí năng thanh tịnh" của mình. Như vậy là Phật pháp và thân tâm của mình dung thông, xem tâm với Phật là một. Tâm trí thanh tịnh tất nhiên có Phật trong chính mình vậy.
2-Lạy ngôi Tam Bảo là lạy khắp Pháp giới: Khi đã hiểu được thân tâm mình cùng với vạn pháp là một không xa lìa nhau, thì chúng sanh với Phật cũng bình đẳng như nhau. Trong kinh dạy: "Nhất thân phục hiện sát trần thân. Nhất nhất biến lễ sát trần Phật".Nghĩa là thân của ta cũng sẽ hiện ra vô số thân trong cõi trần hoàn. Riêng một thân ta lạy Phật, thì tất cả các thân khác cũng lạy Phật. Như vậy là ta lạy Phật tức là lạy khắp Pháp giới nên gọi là "Biến Lễ" là lạy khắp thảy 10 phương Pháp giới, 10 phương chư Phật.
3-Lạy với sự quán tưởng chân chính: Lạy Phật tức là lạy mình, lạy khắp Pháp giới. Như vậy lạy có nghĩa là biểu lộ ra hành động mà quán tưởng đến chư Phật tức là liên hợp được thân tâm, mình với Phật và chúng sanh như nhau, cùng ảnh hiện do sức quán tưởng. Do đó lạy mà quán tưởng sẽ gặt hái được vô lượng công đức.
4-Lạy Phật mà xem như lạy khắp chúng sanh không phân biệt. Lạy như vậy gọi là lạy với thực tướng bình đẳng, 3 cách lạy Phật (thuộc Lý) nêu trên có hành động có suy nghĩ nhưng còn có phân biệt: Mình, Phật và Chúng sanh. Ðến cách thứ tư nầy: lạy với thực tướng bình đẳng tức là trong việc lạy không còn sự phân biệt là Mình, Phật, Chúng sanh nữa. Phàm Thánh tất cả chỉ là một bản thể Chơn Như, cho nên dù Thể hay Dụng cũng không phân biệt. Do đó ngài Văn Thù mới dạy: "Năng lễ, sở lễ tánh không tịch" nghĩa là người lạy, người được lạy, cả hai đều không, mà chỉ có một sự vắng lặng là đáng quý mà thôi.
Tóm lại Lạy Phật phân ra bảy loại, theo Sự và Lý để chỉ rõ trên bước đường tu tập phải trải qua từng giai đoạn để tự huân tập lấy bản thân, hầu đạt đến khi thuần thục: lạy với thực tướng bình đẳng là lạy Phật. Cho nên người cư sĩ Phật tử trên bước đường tu học, cần phải tìm hiểu rỏ ràng mới mong đạt được kết quả trong pháp môn Lạy Phật.
C/ Ðộng tác lạy Phật
1/ Ðứng: Hai gót chân chạm khít lại với nhau, hai đầu bàn chân xòe ra khoảng 60 dộ.
2/ Chấp tay: Hai bàn tay chụm lại, các ngón tay khít lại với nhau, tầm mắt nhìn xuống thấy đầu lỗ mũi và đầu ngón tay vô danh là vừa đúng.
3/ Ðầu ngay thẳng, mắt ngước nhìn lên, hai cánh tay khép sát vào nách, hai bàn tay chụm lại.
4/ Bắt đầu lạy: Hai tay chấp nguyên, từ từ đưa lên theo với tầm mắt nhìn theo Tôn Tượng, rồi từ từ hạ hai tay xuống, cúi đầu chuẩn bị hạ năm phần cơ thể xuống, khi gần đến sát đất, hai bàn tay xòe ra, lòng bàn tay úp xuống mặt đất làm thành hai cây chống đỡ toàn thân, hai gối hơi dãn ra và quỳ sát đất, như vậy là đã ở trong một tư thế cúi sấp người và tùy theo cách lạy mà thay đổi tay:
a-Nếu là đầu diện tiếp túc: Thì hai tay lật ngữa chồng lên nhau, bàn tay phải đặt lên trên bàn tay trái rồi cúi đầu úp mặt vào lòng bàn tay.
b-Nếu là ngũ thể đầu địa: Thì hai tay vẫn chống tức là lòng bàn tay úp xuống đất, và cúi đầu, trán sát xuống đất là được.
c-Nếu là tam khấu đầu: Thì hai tay cũng ở tư thế chống và đầu cúi xuống đất 3 lần.
5/ Khi lạy xong: Ðầu ngẫng lên từ từ, nếu là ở tư thế đầu diện tiếp túc thì hai tay phải lật úp lại trở về thế chống, dùng sức đẩy nhẹ thân mình lên và đứng thẳng dậy thật nghiêm chỉnh rồi lại tiếp tục.
6/Tư thế lạy đứng: Lạy đứng là cách giản dị nhất, nhưng rất dễ bị mất tính cách trang nghiêm, do đó chúng ta cần phải chú ý. Trước khi lạy, đứng thật ngay thẳng, chấp tay đúng theo các yếu tố ghi trên, yên lặng trong một phút để tập trung tưởng và phát nguyện lạy Phật. Xong tay từ từ đưa lên, trong khi đó đầu hơi cúi xuống và gập thân mình lại.
Số lạy trong đạo Phật thường là:
-Biểu lộ quy kính Tam Bảo: 3 lạy.
-Biểu lộ báo đáp Tứ Ân: 4 lạy.
-Biểu lộ quy kính Tam Bảo và cha mẹ: 5 lạy.
Sau khi lạy xong, vái 3 vái và cúi đầu thấp xuống để tỏ sự nép mình cung kính.
Khi lạy tuyệt đối không được nhìn ngang, nhìn dọc hoặc dấy lên những động tác thiếu trang nghiêm hoặc hỏi han nói chuyện với người khác làm cho mình và người đều phân tâm mất phần công đức.
Tóm lại, việc lạy Phật là một điều rất quan trọng đối với người cư sĩ Phật tử trong tiến trình tu học, chúng ta phải luôn luôn huân tập để tiến đến chỗ Sự, Lý viên dung. Hằng ngày lạy Phật với một dạ chí thành, chí kính, nhất tâm, nhất trí. Lạy một lạy mà:- lạy cả mười phương -lạy với thực tướng bình đẳng. Ðược như vậy mới phát huy mạch đạo và tăng thêm phần công đức tu tập.
(Trích trong Thực Hành Phật Giáo của cư sĩ Khánh Vân)