Tư Liệu Dành Cho HDV

Tư Liệu Dành Cho HDV Tài Liệu Dành Cho HDV
Tư Liệu Hồ Chí Minh . Tư Liệu về các điểm du lịch , di tích …

Bản Đồ Du Lịch Hà Giang Khái Quát nhất có thể cho ace nhé Hà Giang không ồn ào, chỉ có gió – mây – núi và những bình yên...
26/01/2026

Bản Đồ Du Lịch Hà Giang
Khái Quát nhất có thể cho ace nhé
Hà Giang không ồn ào, chỉ có gió – mây – núi và những bình yên rất thật.
Đi một lần là nhớ, đi hai lần là muốn ở lại.

Khám phá mảnh đất nên thơ : Bản đồ du lịch Bà Rịa - Vũng Tàu Khái quát nhất có thể cho ace và quý khách dễ hình dung …Ng...
21/01/2026

Khám phá mảnh đất nên thơ :
Bản đồ du lịch Bà Rịa - Vũng Tàu
Khái quát nhất có thể cho ace và quý khách dễ hình dung …
Nguồn : Thiên Sơn
Ad : Trường Phát Travel

Khám Phá Ninh Bình - “Vịnh Hạ Long Trên Cạn”Bản đồ du lịch Ninh Bình cần thiết cho mọi người Nếu Vịnh Hạ Long là kỳ quan...
12/01/2026

Khám Phá Ninh Bình - “Vịnh Hạ Long Trên Cạn”

Bản đồ du lịch Ninh Bình cần thiết cho mọi người

Nếu Vịnh Hạ Long là kỳ quan của biển cả với hàng nghìn hòn đảo đá vôi mọc lên từ mặt nước xanh biếc, thì Ninh Bình chính là “Vịnh Hạ Long trên cạn” - nơi những dãy núi đá vôi vươn cao giữa cánh đồng lúa xanh , uốn lượn theo dòng sông thơ mộng. Cùng một địa chất kỳ vĩ, nhưng Ninh Bình mang đến trải nghiệm hoàn toàn khác biệt: thay vì sóng biển, bạn sẽ lênh đênh trên dòng nước trong veo phản chiếu bầu trời xanh; thay vì tiếng gió biển, bạn sẽ được lắng nghe tiếng chèo thuyền nhịp nhàng và tiếng ve ngân vang; thay vì làn nước mặn mòi, bạn sẽ đắm mình trong hương thơm của lúa chín và không khí trong lành của núi rừng.

Nguồn : Ad Thiên Sơn

VỀ TỔNG SỐ QUÂN THANH TỬ TRẬN TẠI NƯỚC TA NĂM 1789 Về trận chiến Việt Thanh cuối năm Mậu Thân (1788), đầu năm Kỷ...
08/01/2026

VỀ TỔNG SỐ QUÂN THANH TỬ TRẬN TẠI NƯỚC TA NĂM 1789

Về trận chiến Việt Thanh cuối năm Mậu Thân (1788), đầu năm Kỷ Dậu (1789) tuy đã có nhiều tài liệu đầu tay (primary sources) của Thanh triều được công bố các sử gia vẫn còn thắc mắc:

- Số quân Thanh thực sự tham chiến ở nước ta là bao nhiêu?

- Số quân Thanh tử trận ở nước ta là bao nhiêu?

Những con số 20 vạn, 29 vạn tuy có thỏa mãn một chút tự hào dân tộc nhưng không thể chấp nhận một cách dễ dãi nếu chúng ta đi sâu vào cơ cấu hành chánh và tổ chức quân sự của Thanh triều để biết họ phân phối, bố trí và điều động binh lính như thế nào?

Về lực lượng chiến đấu, nhà Thanh đưa sang hai đạo quân dưới quyền tiết chế của Tổng đốc Lưỡng Quảng Tôn Sĩ Nghị: một đạo đi theo đường Quảng Tây do Đề đốc Hứa Thế Hanh chỉ huy; một đạo đi theo đường Vân Nam do Đề đốc Ô Đại Kinh chỉ huy.

Trong hai cánh quân mà sử nhà Thanh gọi là chính binh [quân trực tiếp] và kỳ binh [quân yểm trợ] tạo thành hai gọng kềm cùng tiến xuống Thăng Long, chỉ có quân từ Quảng Tây giao chiến với quân Nam, cánh quân Vân Nam khi xuống đến Hưng Hóa thì dừng lại và lập tức rút về khi thấy đoàn quân của Tôn Sĩ Nghị đang đóng ở Thăng Long bị đánh bại, không dám tiến xuống giải vây hay tiếp viện cho chủ tướng. Do đó, sử Trung Hoa cũng như sử nước ta thường chỉ đề cập đến toán quân Thanh đi theo đường Nam Quan là lực lượng chính yếu đã tham dự vào cuộc động binh này.

1. NHỮNG KHÓ KHĂN TRONG VIỆC TÌM HIỂU CÁC CON SỐ

Tuy chỉ là một chiến dịch tương đối ngắn ngủi, số lượng quân Thanh tham chiến không cố định vì có thể ước tính theo nhiều cách:

- Tập hợp của cả hai đoàn quân Lưỡng Quảng - Vân Quí của nhà Thanh: Con số này ngoài binh sĩ còn có hàng chục vạn dân phu, hàng nghìn bò ngựa để chuyên chở lương thực, súng ống và quân trang nên nếu nói theo ước lượng của nước ta là 20 vạn quân Thanh [thực ra trong hịch của nhà Thanh họ thổi phồng lên đến 50 vạn] thì cũng không phải là quá xa sự thực vì ngoài đôi chút phô trương, số dân phu tải lương theo lối “cổn vận” đi theo từng đoàn, đến địa điểm rồi lại quay về liên tục như mắt xích nên lúc nào cũng lũ lượt không dứt.

- Chỉ tính riêng đoàn quân Quảng Tây do đích thân Tôn Sĩ Nghị điều động: Nếu chỉ tính quân sĩ thực sự do Tôn Sĩ Nghị, Hứa Thế Hanh, Trương Triều Long, Thượng Duy Thăng chỉ huy, con số này ít hơn nhiều nhưng lại có thêm cờ xí chiêng trống, diệu võ dương oai, cũng tạo nên một bề ngoài hùng tráng khiến dân chúng miền Bắc phải hoảng sợ.

- Tính tập hợp mọi lực lượng chính qui, phụ trội và yểm trợ: Bao gồm cả quân chính qui, quân địa phương, quân thiểu số ở biên giới đi theo quân Thanh và quân nhà Lê, thổ hào … cùng tiến xuống rồi sau đó chia ra trấn giữ khắp nơi. Ngoài các đạo quân thiểu số Thái, Thổ, Miêu…, còn có xưởng dân, là những người Trung Hoa lén lút trốn sang nước ta khai khẩn mỏ đồng, mỏ thiếc [mà theo báo cáo của Tôn Sĩ Nghị thì đông đến mấy vạn người].

Cũng nên thêm mấy năm đó mùa màng thất bát, loạn lạc nên nhiều nơi không đủ lương thực. Khi vua Càn Long ra lệnh cung cấp nuôi ăn những ai đi theo cần vương, số người hưởng ứng rất đông. Nếu tính chung mọi thành phần, tuy nhà Thanh chỉ đưa chừng 1 đến 2 vạn quân chính qui[1], lực lượng hậu cần và phụ trợ có thể to lớn hơn đưa đến những con số ảo mà người nghiên cứu phải cân nhắc.

Trong biên khảo ngắn này, chúng tôi chỉ tập trung vào điểm thứ 2 là đoàn quân do Tôn Sĩ Nghị chỉ huy. Tuy nhiên tính riêng cánh quân Lưỡng Quảng cũng không dễ dàng vì đoàn quân mà Tôn Sĩ Nghị tế cờ mở cửa tiến sang nước ta chỉ là một bộ phận ban đầu, sau đó được bổ sung nhiều đợt (cả quân lính lẫn phu dịch) vừa gia nhập vào đại quân, vừa chia ra bảo vệ những lương đài [đài trạm] tất cả 17 chỗ dọc từ Lạng Sơn xuống đến Thăng Long. Ngoài ra, ở những nơi hiểm yếu, quân Thanh cũng lập những đồn bót [hoặc chiếm được của Tây Sơn] và đóng quân tại đó để đề phòng quân địch tấn công ngang hông cắt đường rút lui. Đó là bố trí rất cơ bản mà trong bất cứ cuộc tiến quân nào quân Thanh đều áp dụng.
Về con số tử thương, chúng tôi chỉ có được những con số chính thức mà Thanh triều tổng kết. Tuy nhiên con số này cũng bất định vì có thể bao gồm nhiều thành phần khác nhau:

- Số binh sĩ chết trận ở Thăng Long [và các đồn trại hỗ trợ] trong trận đánh sau cùng;

- Số binh sĩ chết dọc theo đường tiến quân từ Lạng Sơn xuống kinh đô;

- Số binh sĩ chết vì bệnh tật [kể cả ở nước ta và sau khi về nước].
Cũng nên thêm rằng để giảm thiểu con số thương vong, Thanh triều chỉ kết toán quân chính qui là quân đội được trả lương và hưởng tiền tử tuất với biểu ngạch nhất định. Các quân phụ trợ như thổ binh, dân binh, xưởng binh … họ chỉ ủy lạo và không được kể vào những người được đưa vào Chiêu Trung Từ.

Nói tóm lại, giữa con số được ghi nhận một cách chính thức và số người thực sự chết trong trận đánh ở Thăng Long có khác biệt và mãi mãi chúng ta không bao giờ có thể biết được chính xác.[2]

2. LỰC LƯỢNG NHÀ THANH

2.1. Bộ phận tham mưu

Theo tổ chức hành chánh và quân đội của Thanh triều, đội quân viễn chinh sang đánh nước Nam được đặt sắp xếp như sau:

a. Chỉ huy tối cao: Tôn Sĩ Nghị, Tổng đốc Lưỡng Quảng.

b. Chỉ huy yểm trợ: Phú Cương, Tổng đốc Vân Quí.

c. Chỉ huy quân đội (cánh quân mặt đông): Đề đốc Quảng Tây Hứa Thế Hanh (許世亨) [3], có hai phụ tá.

- Tổng binh[4] Quảng Tây Thượng Duy Thăng (尚維昇)[5], Phó tướng Tôn Khánh Thành.[6]

- Tổng binh Quảng Ðông Trương Triều Long (張朝龍)[7], Phó tướng Lý Hóa Long.

d. Chỉ huy quân đội (cánh quân mặt tây): Đề đốc Vân Nam Ô Ðại Kinh[8], có hai phụ tá:

- Tổng binh Thọ Xuân Ðịnh Trụ (定柱).[9]

- Tổng binh Khai Hóa Tôn Khởi Giao (孫起蛟).[10]

2.2. Quân đội điều động

2.2.1. Quân chính quy

a. Quảng Ðông

Năm ngàn (5.000) quân điều động từ tỉnh Quảng Ðông gồm có quân địa phương và đề tiêu (quân trực thuộc đề đốc), mỗi đội 1.500 người, cánh tả, cánh hữu mỗi cánh 1.000 người, do hai Tổng binh Trương Triều Long và Lý Hóa Long chỉ huy, chia từng đội 500 người tổng cộng là mười đội lần lượt kéo đến biên cảnh Quảng Tây. Về sau, Tôn Sĩ Nghị lại điều động thêm 3.000 quân Quảng Đông nữa nhưng chưa đến kịp thì đại quân đã thua chạy về.

b. Quảng Tây

Về tỉnh Quảng Tây, ngoài 5.000 quân bản bộ, Tôn Sĩ Nghị cũng điều động 4.000 quân đang trấn giữ ở Nam Quan và các cửa ải, lại tuyển thêm 1.000 quân bổ sung thành 5,000 người nâng quân số của tỉnh Quảng Tây lên tổng cộng 10.000 người.[11] Ngoài lính ra, Quảng Tây còn mang theo 423 con ngựa, về sau tăng viện 3.500 binh sĩ, tổng cộng 13.500 quân và 423 ngựa.

Tính như thế tổng cộng số quân hai tỉnh Quảng Ðông, Quảng Tây được điều động là 21.500 quân.

Trong số này, Tôn Sĩ Nghị để lại 4.000 quân đóng giữ các quan ải dọc theo biên giới, 5.000 không theo đại quân chia thành ba toán, 2.000 người ở lại phòng thủ Lạng Sơn, 1.300 người chia ra canh gác 17 kho lương thực được thành lập dọc theo tuyến đường từ Lạng Sơn đến Thăng Long, 1.700 người khác chia ra canh phòng các nơi hiểm yếu. Con số do Tôn Sĩ Nghị và Hứa Thế Hanh đưa xuống Thăng Long khoảng chừng 12.500 người.

2.2.1. Quân phụ trợ

a. Thổ binh

Các trấn, hiệp, doanh tại đốc phủ đề lân cận cũng được lệnh chuẩn bị thêm vài nghìn quân để điều động sau, tính ra riêng tỉnh Vân Nam cũng dự bị cả thảy hơn một vạn quân. Thổ quan châu Bảo Lạc là Nông Phúc Tấn (農福縉) đem 2.000 quân, Thổ ti Ðiền châu (田洲) là Sầm Nghi Ðống (岑宜棟) cũng dẫn 2.000 thổ binh.[12] Ngoài ra còn Thổ quan Ðô Long (都龍) là Hoàng Văn Trăn (黃文溱) và Thổ quan Bảo Thắng (保勝) là Hoàng Văn Thao (黃文韜) cũng đem quân đi theo. Riêng Mạc hữu xưởng Ba Bồng (波篷) là Lâm Tế Thanh (林際清) được nhà Thanh đặc thưởng hàm tri huyện, thống suất những người trong xưởng đi theo quân Thanh. Cánh quân Vân Quí, nhà Thanh cũng điều động 1.500 thổ binh vùng biên giới Hoa - Việt để dẫn đường.

b. Mã phu

Tỉnh Quảng Ðông điều động 328 con ngựa, Quảng Tây điều động 423 con ngựa tổng cộng 751 con. Theo tiêu chuẩn mỗi con ngựa là hai người phu thì họ phải điều động thêm khoảng 1.500 dân phu để phục dịch cho 751 con ngựa. Cũng nên nói rõ là ngựa mà quân Thanh dùng trong chiến dịch không phải là loại ngựa chiến mà là loại ngựa bản địa, nhỏ nhưng dai sức để dùng cho quan quân cưỡi và chở đồ đạc, súng đạn.[13]

c. Dân phu

Ngoài thành phần lính chính qui, quân Thanh còn có thêm những đoàn dân phu đi theo để chăn ngựa, khuân vác nhưng không rõ rệt là bao nhiêu. Số lượng dân phu làm công tác vận tải súng ống, quân dụng, canh giữ và chuyển vận lương thảo ... đóng rải rác dọc theo trục lộ tiến quân hay phục dịch tại mặt trận tính ra còn cao hơn cả binh sĩ.

Số phu dịch này phần lớn là dân chúng vùng nam Trung Hoa bị bắt đi làm công không lương (được cơm ăn trong số gạo họ mang vác) và cả một số người Việt tại các vùng biên giới. Riêng tỉnh Quảng Tây, nhà Thanh đã điều động số dân phu đi theo đoàn quân lên đến 54.000 người, không tính số ở các tỉnh lân cận được sử dụng vào hệ thống hậu cần để chuyên chở gạo thóc, vũ khí, quân trang, quân dụng … từ nơi này đến nơi khác.

Trong số binh lính đưa sang nước ta, số quân của hai tỉnh Vân - Quí là 8.000 người không đụng trận nên rút về được an toàn, số quân từ Quảng Tây ra khỏi Nam Quan là 17.500 người có lẽ là số gần đúng mặc dù không phải ai ai cũng tham chiến. [Xem bảng thống kê trong các file ảnh đính kèm].

3. TỔN THẤT QUÂN THANH

Khi đối chiếu con số Tôn Sĩ Nghị đưa qua Nam Quan chừng 17.500 trừ đi con số 5.000[15] mà họ báo cáo chạy được về thì con số tử trận, mất tích [hay ở lại nước ta sinh sống][16] phải hơn 1 vạn. Con số này phần lớn đóng ở Thăng Long do Tôn Sĩ Nghị và Hứa Thế Hanh trực tiếp chỉ huy nhưng cũng có những toán quân khác lập thành đồn luỹ ở phía nam để bảo vệ đại doanh.

Gần đây, khi đọc lại Cao Tông thực lục, chúng tôi tìm được ba đợt tổng kết cuối năm [Kỷ Dậu, Canh Tuất, Tân Hợi], binh sĩ các cấp đã tử trận đã được hưởng tử tuất và đưa vào thờ trong Chiêu Trung Từ.

Tổng kết trong ba năm sau cuộc chiến, Thanh triều ghi nhận khoảng chừng 12.000 quan binh Trung Hoa tử trận ở nước ta. Sở dĩ chúng tôi không lấy một con số cố định vì cũng có thể còn nhiều điều cần kiểm chứng thêm khi có tài liệu. Điển hình là Du kích Trương Hội Nguyên trong trận đánh chỉ bị thương và là tù binh được trả về nhưng cũng có tên trong danh sách tử tuất [rất có thể chết sau vì vết thương không khỏi]. Cũng không loại trừ việc quan lại Trung Hoa khai man thêm một số tên để thâm lạm tiền tử tuất hay lương bổng là tình trạng khá phổ biến thời Thanh.

Không nói đến những con số mang tính phóng đại trong ngoại sử, số tử thương sau cùng mà chúng ta có thể ghi nhận trong tài liệu chính thức của Thanh triều như sau:

- Cao Tông thực lục, quyển 1.345 (ngày Tân Tị, 30 tháng Chạp, Càn Long 54):

Trong năm vừa qua truy cứu những người sang đánh An Nam chết trận có Thổ tri châu Điền Châu là Sầm Nghi Đống 1 người, Phó tướng Hình Đôn Hành 1 người, Tham tướng Dương Hưng Long, Anh Lâm, Vương Tuyên 3 người, Du kích Minh Trụ, Vu Tông Phạm, Trương Thuần, Vương Đàn, Trương Hội Nguyên, Lưu Việt 6 người, Thủ bị Lê Chí Minh 1 người, Thổ thiên tổng A Cát 1 người, bọn Ngoại ủy ngoại ngạch Hoàng Nhất 18 người, binh lính bọn Vương Tư Hạo 4.619 người theo lệ tế và chôn cất, thưởng tuất, tất cả đều được thờ trong Chiêu Trung Từ.

- Cao Tông thực lục, quyển 1.369 (ngày Ất Hợi, 29 tháng Chạp năm Càn Long 55):

Trong năm vừa qua truy cứu những người chết trận trong chuyến đánh An Nam có: Du kích Tiêu Ứng Ðắc 1 người, Đô ti bọn Hư Văn Khôi 6 người, bọn Thủ bị Phùng Thiên Dư 9 người, bọn Thiên tổng Dương Phó Long 14 người, bọn Bả tổng Lý Thế Tuấn 10 người, bọn Ngoại ủy Tạ Ðình Siêu 91 người, bọn Ngoại ủy ngoại ngạch Quan Tú Phương 14 người, còn lại mã binh, bộ binh, quân sĩ là 6.876 người, theo lệ tế và chôn cất, thưởng tuất, tất cả đều được thờ trong Chiêu Trung Từ.

- Cao Tông thực lục, quyển 1394 (ngày Canh Ngọ, 30 tháng Chạp năm Càn Long 56):

Trong năm vừa qua truy cứu những người sang đánh An Nam chết trận có Thiên tổng Trần Siêu Thụy 1 người, Bả tổng Trần Hồng Du 1 người, bọn Ngoại ủy Viên Cẩm Tiêu 4 người, binh lính bọn Tiết Thăng 99 người theo lệ tế và chôn cất, thưởng tuất, tất cả đều được thờ trong Chiêu Trung Từ.

Xem như thế chúng ta thấy kể cả võ quan cao cấp như đề đốc, tổng binh ra, số quan binh trung cấp và lính thường gồm có: [Xem bảng thống kê trong các file ảnh đính kèm].

Tổng cộng ba đợt số quân nhà Thanh [kể cả ba tướng lãnh] tử trận ở nước ta là 11.780 người trong đó có 186 võ quan các cấp.

Con số gần 12.000 người này đại đa số tử trận ở Thăng Long là trận đánh lớn nhất vì số quân được giao cho giữ các lương đài không đáng kể, có thể chạy trước khi bị truy kích. Nếu tính rằng số quân Thanh trực tiếp giao chiến tại chiến trường vào khoảng 13.000 đến 15.000 người vào thời điểm xảy ra trận đánh, số thực sự chạy về Quảng Tây không nhiều và số quân báo cáo về được [khoảng 5.000] phần lớn không phải là quân từ mặt trận mà từ các trục lộ, đài trạm hay binh sĩ trú phòng ở Lạng Sơn. Nếu tính cả 800 người bị bắt, số lượng binh sĩ nhà Thanh vượt sông Nhĩ Hà chạy được chỉ chưa đầy 1.000 người, so với những lời tường thuật của dân chúng và các nhân chứng về đại bại của Tôn Sĩ Nghị cũng không sai bao nhiêu.

4. TỔNG KẾT THIỆT HẠI NHÂN MẠNG CỦA QUÂN THANH

[Xem bảng thống kê trong các file ảnh đính kèm].

SỐ QUÂN THANH TỬ TRẬN GHI TRONG CAO TÔNG THỰC LỤC

[Xem bảng thống kê trong các file ảnh đính kèm].

CHÚ THÍCH:

[1] Lục doanh, tức là quân người Hán [khác với kỳ binh người Mãn và kỳ binh Mông Cổ].

[2] Theo Trương Tú Dân trong Trung Việt quan hệ sử luận văn tập (Đài Bắc: Văn Sử Triết, 1992) trong bài “Trung Việt quan hệ thư mục”, thì tại thư viện Bắc Kinh còn tồn trữ một bộ Chiêu Trung Từ liệt truyện tục tập (昭忠祠列傳續集). Theo Trương Tú Dân thì Chiêu Trung Từ liệt truyện tục tập là sao bản thời Thanh Gia Khánh, nội dung bao gồm 5 quyển chép các quan binh trong chiến dịch đánh An Nam, 37 quyển chép tên các binh đinh (giữ trong Thư viện Bắc Kinh). Nếu được tiếp cận bộ sách này thì chúng ta sẽ có chính xác tên tuổi số quan binh bị chết.

[3] Người Tân Ðô, Tứ Xuyên, gốc người Hồi, tòng quân đánh Kim Xuyên, lập công trạng trong vụ đánh Ðài Loan nên được làm Đề đốc Quảng Tây, khi bị chết ở Thăng Long được thăng Tráng Liệt Bá, ban tên thụy Thiệu Nghị.

[4] Theo quan chế nhà Thanh thì Ðề đốc (tòng nhất phẩm), Tổng binh (chánh nhị phẩm), Phó tướng (tòng nhị phẩm), Tham tướng (chánh tam phẩm), Du kích (tòng tam phẩm), Ðô ti (chánh tứ phẩm), Thủ bị (chánh ngũ phẩm), Thiên tổng (chánh lục phẩm), Bả tổng hay Bá tổng (chánh thất phẩm). Theo Ian Heath trong Armies of the Nineteenth Century: Asia V. 2: China (Great Britain: Foundry Books, 1998, trang 18-19), thì những cấp bậc đó tương đương với hiện thời như sau: Ðề đốc (đại tướng), Tổng binh (trung tướng), Phó tướng (thiếu tướng), Tham tướng (đại tá), Du kích (thượng tá), Ðô ti (trung tá), Thủ bị (thiếu tá), Thiên tổng (đại úy), Bả tổng (trung úy)... Tuy nhiên nếu là ngoại vi thiên tổng thì chỉ tương đương trung sĩ, còn ngoại vi bả tổng chỉ tương đương hạ sĩ. Thực ra những danh hiệu này là chức vụ, không phải cấp bậc nên những phiên dịch của Heath không hoàn toàn chính xác, nhưng cũng cho ta một số khái niệm về vai trò quân sự của các tướng lãnh nhà Thanh thời đó.

[5] Thuộc Nhương Lam Kỳ Hán quân, làm Tổng binh Hữu Giang trấn Quảng Tây, khi chết tại nước ta được ban thụy là Trực Liệt (直烈).

[6] Tôn Khánh Thành (孫慶成) là chắt (great-grandson) của Chấn Võ tướng quân Tôn Tư Khắc, một danh tướng đầu thời Thanh.

[7] Người Ðại Ðồng nhưng sang sống ở Quí Châu, từng tham dự các trận đánh Miến Ðiện, Kim Xuyên lập nhiều công lao nên thăng lên Đô ti. Sau tham dự đánh Ðài Loan trong chiến dịch bình Lâm Sảng Văn, Trang Ðại Ðiền nên được lên Tổng binh Nam Áo (南澳), Phúc Kiến. Khi chết ở nước ta được ban tên thụy là Tráng Quả (壯果).

[8] Người Trường An, đậu tiến sĩ võ đời Càn Long, làm Tham tướng Ðức Châu. Khi Vương Luân nổi loạn ở Thọ Trương, ông đem quân đánh dẹp, thăng lên Đề đốc Vân Nam và ở đây cho tới chết.

[9] Thuộc Nhương Hoàng Kỳ Mãn Châu, từng tham gia các cuộc chiến đánh Miến Ðiện, Kim Xuyên, thăng lên Tổng binh Thọ Xuân. Ðến đời Gia Khánh có công trong việc đánh dẹp các giáo phái tại Hà Nam, Thiểm Tây. Sau lên làm Đề đốc Ô Lỗ Mộc Tề (烏魯木齊).

[10] Người Võ Thành, có chiến công nên được làm ngoại ủy đời Càn Long, tham dự đánh Kim Xuyên, sau lên làm Đề đốc Quảng Ðông

[11] Trang Cát Phát, Thanh Cao Tông thập toàn võ công nghiên cứu (Ðài Loan Cố cung tùng san, Giáp Chủng số 26, tháng 6/1982, tr. 360); Lại Phúc Thuận, Càn Long trọng yếu chiến tranh chi quân nhu nghiên cứu (Ðài Bắc: Quốc lập Cố cung Bác vật viện, 1984, tr. 141). Con số của các tác giả Trung Hoa cũng không thống nhất, con số chúng tôi dùng là theo Lại Phúc Thuận vì căn cứ theo lương thực và lương bổng nên có cơ sở hơn.

[12] Nhiều tài liệu chỉ chép số quân của Sầm Nghi Ðống là 1.500 người nhưng các con số trên đây trích từ chính tấu thư của Tôn Sĩ Nghị (An Nam kỷ lược, quyển X, tr. 14).

[13] Trong chiến dịch đánh An Nam, rút kinh nghiệm các trận đánh ở Miến Ðiện, nhà Thanh đổi chiến lược không điều động kỵ binh từ miền bắc xuống mà chỉ dùng quân địa phương, thổ binh và chủ yếu phương tiện của bốn tỉnh miền tây nam giáp với nước ta. Chính vì thế, công tác chuẩn bị cũng nhanh mà lực lượng điều động cũng nhỏ (nhỏ nhất trong mười chiến dịch đời Càn Long), không ghê gớm như chúng ta thường tưởng tượng.

[14] Theo tài liệu thì quân Thanh sử dụng nhiều loại vũ khí trong đó có nhiều loại súng tay (điểu sang, ta-ba-lạp sang, súng trường, xọa sang, hiệu sang), nhiều loại súng lớn (thần uy pháo, đại thần pháo, uy viễn pháo, xung thiên pháo, phách sơn pháo, tử mẫu pháo, chế thắng pháo, hồng y pháo, cửu tiết pháo …), nhiều loại đạn, địa lôi …, thuốc súng, các loại đao (yêu đao, cương đao, đại đao, đoản đao, dao rựa, câu liêm , kiếm …), nhiều loại cung tên … Quân Thanh cũng được trang bị nhiều quân dụng khác, các loại quân trang (giáp trụ, áo bông, quần chiến, khiên mây …), các loại lều trướng, lương bằng, túi ngủ, nồi niêu, bát đĩa … và các phương tiện vượt sông như thuyền gỗ, thuyền da … Xem: Lại Phúc Thuận (1984, tr. 340-341).

[15] Tôn Sĩ Nghị có lúc báo cáo chạy về đến 8.000 người nhưng con số này không chính xác.

[16] Sau khi thắng trận vua Quang Trung có ra lệnh cho phát phối một số binh sĩ bị bắt nhưng tình hình biến chuyển nhanh nên nếu có số lượng này cũng không nhiều và sau đều được trả về nước.

[17] Ông này trước đây báo cáo đã chết nhưng sau được trả về, nay lại có tên trong danh sách.

Nguồn: Tạp chí phát triển kinh tế xã hội Đà Nẵng số 172. Tháng 4/2024 (ISSN: 1859 - 3437), công bố về số quân Thanh chết trận ở nước ta vào năm 1789 của nhà nghiên cứu Nguyễn Duy Chính. Các con số trong bài này dựa trên các thống kê của phía nhà Thanh, được lưu trữ trong các đáng án của Thanh đình và tài liệu của Quân cơ xứ nhà Thanh.
Các số liệu này khác với những gì sử liệu và văn học sử nước ta công bố và được đông đảo quý vị tin tưởng bấy lâu nay.
Vậy nên, khi đọc những số liệu này, nếu thấy không như quý vị nghĩ, thì đừng có nóng nảy rồi giở giọng phê phán tác giả “lật sử” nhé.
[Trần Đức Anh Sơn biên tập và giới thiệu.]

08/01/2026

Bản đồ du lịch Sapa
Đây là bản đồ cần thiết cho ace , quý khách khi cần .. Sapa nơi gặp gỡ đất trời

Bản đồ du lịch Côn Đảo cho ace và cty khi cần ạ Nguồn : Ad Thiên Sơn
05/01/2026

Bản đồ du lịch Côn Đảo cho ace và cty khi cần ạ
Nguồn : Ad Thiên Sơn

13/12/2025

THUYẾT TRÌNH VỀ CHỦ ĐỀ:

" PHONG TỤC THỜ CÚNG TỔ TIÊN
TRONG GIA ĐÌNH "

"In Vietnamese culture, the tradition of ancestral worship plays a vital role in shaping family values and strengthening the bond between generations. Many people believe that honoring their ancestors is not only a spiritual practice but also a way to express gratitude for the sacrifices made by past family members. Typically, every family keeps an ancestral altar in the most respectful corner of the house, where incense, flowers, and offerings are presented during important occasions."

(Trong văn hoá Việt Nam, tục thờ cúng tổ tiên giữ vai trò quan trọng trong việc hình thành giá trị gia đình và gắn kết các thế hệ. Nhiều người tin rằng việc tưởng nhớ tổ tiên không chỉ là một nghi thức tâm linh mà còn là cách thể hiện lòng biết ơn đối với những hy sinh của người đi trước. Thông thường, mỗi gia đình đều đặt một bàn thờ tổ tiên ở vị trí trang trọng nhất trong nhà, nơi hương, hoa và lễ vật được dâng lên trong những dịp quan trọng.)

"On special days such as the Lunar New Year, death anniversaries, or major family celebrations, people prepare offerings that often include traditional dishes, fresh fruits, and votive papers. These rituals symbolize respect and serve as a meaningful reminder for younger generations about their roots. Many Vietnamese also believe that their ancestors can bring blessings, protection, and good fortune to the family. This spiritual connection gives them a sense of comfort and emotional support in times of difficulty."

(Vào những ngày đặc biệt như Tết Nguyên Đán, ngày giỗ, hoặc các lễ lớn của gia đình, mọi người chuẩn bị lễ vật gồm các món ăn truyền thống, trái cây tươi và giấy tiền vàng bạc. Những nghi lễ này tượng trưng cho lòng tôn kính và nhắc nhở thế hệ trẻ về cội nguồn của mình. Nhiều người Việt cũng tin rằng tổ tiên có thể mang lại phước lành, sự bảo hộ và may mắn cho gia đình. Sự kết nối tâm linh này mang lại cho họ cảm giác an yên và được nâng đỡ trong những lúc khó khăn.)

"Furthermore, ancestral worship reflects the Vietnamese philosophy of ‘drink water, remember its source,’ which emphasizes moral responsibility and filial piety. This mindset encourages people to lead a responsible life, maintain family harmony, and show respect to older generations. Although modern lifestyles have changed significantly, this tradition continues to thrive because it provides a foundation for cultural identity and reminds people of timeless values."

(Hơn nữa, tục thờ cúng tổ tiên phản ánh triết lý “uống nước nhớ nguồn” của người Việt, nhấn mạnh trách nhiệm đạo đức và lòng hiếu kính. Tư tưởng này khuyến khích con người sống có trách nhiệm, giữ gìn hoà khí gia đình và tôn trọng bậc sinh thành. Mặc dù lối sống hiện đại đã thay đổi nhiều, truyền thống này vẫn được duy trì mạnh mẽ vì nó tạo nền tảng cho bản sắc văn hoá và nhắc nhở con người về những giá trị trường tồn.)

"In my opinion, ancestral worship is not merely a religious practice but a beautiful cultural tradition that fosters unity and gratitude within families. It teaches younger generations to appreciate their heritage and to respect the contributions of those who came before them. As society develops, I believe this custom will continue to evolve while still preserving its core values, ensuring that Vietnamese families maintain a deep spiritual connection across generations."

(Theo tôi, tục thờ cúng tổ tiên không chỉ là một nghi thức tín ngưỡng mà còn là một truyền thống văn hoá đẹp, nuôi dưỡng sự gắn kết và lòng biết ơn trong gia đình. Nó dạy thế hệ trẻ trân trọng di sản của mình và tôn trọng những đóng góp của người đi trước. Khi xã hội phát triển, tôi tin rằng phong tục này sẽ tiếp tục thay đổi nhưng vẫn giữ được giá trị cốt lõi, đảm bảo rằng các gia đình Việt luôn duy trì mối liên kết tâm linh sâu sắc qua nhiều thế hệ.)

I – TỪ VỰNG CẦN CHÚ Ý:

1. Ancestral worship /ænˈsɛstrəl ˈwɜːʃɪp/ (noun): thờ cúng tổ tiên

2. Filial piety /ˈfɪliəl ˈpaɪəti/ (noun): lòng hiếu kính

3. Heritage /ˈhɛrɪtɪdʒ/ (noun): di sản

4. Ritual /ˈrɪtʃuəl/ (noun): nghi lễ

5. Offerings /ˈɒfərɪŋz/ (noun): lễ vật

6. Blessings /ˈblɛsɪŋz/ (noun): phước lành

7. Spiritual connection /ˈspɪrɪtʃuəl kəˈnɛkʃən/ (noun phrase): kết nối tâm linh

8. Cultural identity /ˈkʌltʃərəl aɪˈdɛntɪti/ (noun phrase): bản sắc văn hoá

9. Generations /ˌdʒɛnəˈreɪʃənz/ (noun): các thế hệ

10. Gratitude /ˈɡrætɪtjuːd/ (noun): lòng biết ơn

________
The end !

02/12/2025

Tư Liệu Về Mai Châu
Dành cho mùa tour học sinh sắp tới nhé cả nhà

Cung Đường Hà Nội - Dốc Cun - Đèo Đá Trắng - Cột Cờ Mai Châu - Mai Châu

Mai Châu có một bề dày lịch sử đáng trân trọng. Ngay từ thời nhà Trần, những người con của đất Mường Mai đã trấn ải biên giới, lập nhiều chiến công, được triều đình ban thưởng. Nghĩa quân áo đỏ của đồng bào các dân tộc ở Mai Châu đã nhiều phen làm cho quân xâm lược nhà Minh khiếp sợ.

Trước năm 1945, xã hội người Thái ở Mai Châu được phân chia đẳng cấp rõ rệt. Thống trị xã hội là hệ thống phìa tạo cha truyền con nối, bên dưới là các tạo mường làm bang tá, chánh tổng. Trực tiếp cai quản ở làng, bản là các tạo poọng, tạo bản, giúp việc cho tạo là quáng xứ, quáng văn đảm trách việc thu thuế, gạo, thịt, sản vật nộp cho poọng, lên mường là pằn, quyền, chá... Có thể nói, dưới chế độ phìa tạo, ruộng đất đều nằm trong tay giai cấp thống trị, người nông dân bị bóc lột thậm tệ và bị bần cùng hoá.

Kể từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, ở Mai Châu, chế độ phìa tạo đã nhanh chóng trở thành bộ máy tay sai từ châu đến tổng, xã. Nhằm dễ bề thống trị và đàn áp các cuộc đấu tranh của nhân dân, bọn thực dân và phong kiến đã sử dụng thủ đoạn chia rẽ sự đoàn kết nội bộ dân tộc, đầu độc người dân bằng các tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan.

Cuối năm 1942, tại Phố Vãng, tổ cứu quốc đầu tiên của tỉnh Hoà Bình được thành lập, tích cực nhen nhóm và phát triển phong trào cách mạng nơi đây. Sau đó, chiến khu Hoà - Ninh - Thanh ra đời đã tạo điều kiện thuận lợi cho phong trào cách mạng ở địa phương tiến lên một bước cơ bản.

Sau khi đảo chính Pháp, phát xít Nhật đã chiếm đóng nước ta. Ở Mai Châu, phát xít Nhật đóng ở Suối Rút và thường xuyên bắt nhân dân đi phu đắp sửa đường giao thông, xây dựng đồn bốt.

Ngày 25-8-1945, Nhật đầu hàng Đồng minh vô điều kiện, lực lượng cách mạng từ các vùng Tu Lý, Hiền Lương (Đà Bắc) phối hợp với nhân dân tại chỗ tiến đánh Chợ Bờ. Quân Nhật khiếp sợ và nhanh chóng đầu hàng. Ta tổ chức mít tinh và tuyên bố thành lập Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời châu Mai Đà. Sau đó, lực lượng cách mạng được chia làm hai bộ phận: bộ phận thứ nhất về thị xã Hoà Bình để hỗ trợ cuộc khởi nghĩa giành chính quyền tỉnh; bộ phận thứ hai vượt sông Đà, phối hợp với đại đội Đinh Công Đốc bao vây chính quyền tay sai ở Suối Rút. Trước khí thế cách mạng sôi sục và áp lực của đông đảo quần chúng, chính quyền ở Suối Rút đã về tay nhân dân, Uỷ ban cách mạng lâm thời được thiết lập.

Sau Cách mạng Tháng Tám, chính quyền cách mạng non trẻ của chúng ta đã gặp rất nhiều khó khăn về kinh tế cũng như đối phó với âm mưu phá hoại của “thù trong giặc ngoài”. Nhiệm vụ cấp bách đặt ra lúc này là nhanh chóng ổn định đời sống nhân dân, củng cố bộ máy chính quyền. Chính quyền cách mạng lâm thời đã tập trung chỉ đạo phong trào tăng gia sản xuất, diệt giặc đói, giặc dốt. Mọi tầng lớp nhân dân đều hăng hái tham gia, thi đua phát nương trồng sắn, trồng rau màu đẩy lùi nạn đói.

Khi thực dân Pháp tấn công đánh chiếm trở lại Hoà Bình, do đã được chuẩn bị từ trước nên các địa phương của Mai Châu đã kịp thời tổ chức tản cư, di dời các kho tàng, tài sản đến nơi an toàn. Hai tháng sau, quân địch với những trung đoàn bộ binh có sự yểm trợ của pháo binh, không quân mới chiếm được tuyến đường 15 và toàn bộ vùng Mai Châu. Tại đây, chúng tăng cường bắt lính, càn quét, xây dựng bộ máy chính quyền tay sai, ra sức lừa phỉnh nhân dân bằng chiêu bài “Xứ Mường tự trị”.

Ngày 15-1-1950, quân Pháp rút khỏi Mai Châu do vấp phải nguy cơ bị đẩy vào thế thất bại. Mai Châu hoàn toàn được giải phóng. Từ các vùng tiếp giáp, thực dân Pháp vẫn thường xuyên tổ chức bắn phá, càn quét vào địa phận huyện Mai Châu.

Tháng 11-1951, thực dân Pháp mở cuộc tấn công Hoà Bình lần thứ hai, chiếm đóng các vị trí trọng điểm, trong đó có Mai Châu, tổ chức tuyên truyền dụ dỗ nhân dân hòng khôi phục lại “Xứ Mường tự trị”. Nhân dân các dân tộc Mai Châu đã một lòng một dạ theo cách mạng, tiến hành tiêu thổ kháng chiến, đóng góp hàng vạn cây nứa, bương, tre phục vụ bộ đội đánh địch.

Trong suốt cuộc trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc, Mai Châu đã trở thành một trong số các căn cứ địa phục vụ chiến trường Tây Bắc. Chín năm kháng chiến kết thúc thắng lợi với chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ giải phóng hoàn toàn miền Bắc. Kể từ đây, Mai Châu bước vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ trọng tâm sau kháng chiến là khôi phục kinh tế, phát triển văn hoá.

Ngày 21-9-1956, Thủ tướng Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã ra Nghị định số 1053/TTg, chia huyện Mai Đà ra thành hai huyện Mai Châu và Đà Bắc.

Mai Châu trở thành một đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 5 xã: Mai Thượng, Mai Hạ, Pù Bin, Bao La và Tân Mai.

Trong cuộc trường kỳ kháng chiến chống đế quốc Mỹ, mặc dù đang gặp rất nhiều khó khăn, đời sống nhân dân còn đói khổ, nhưng với khẩu hiệu “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, toàn huyện Mai Châu đã huy động lực lượng thanh niên lên đường chi viện cho chiến trường miền Nam và thực hiện nghĩa vụ của “hậu phương lớn” đối với “tiền tuyến lớn”.

Vừa phải đối phó với máy bay Mỹ, nhân dân và lực lượng vũ trang Mai Châu vừa tích cực đẩy mạnh sản xuất, thực hiện nghĩa vụ đóng góp lương thực, thực phẩm cho Nhà nước, luôn hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao. Ngoài ra, nhân dân trong huyện còn đóng góp hàng nghìn ngày công, đào hàng trăm mét khối đất đá làm hầm, hào giao thông phục vụ cho công tác quân sự ở địa phương. Lực lượng vũ trang của huyện trực tiếp tham gia nhiều trận vây bắt giặc lái và đã lập nhiều chiến công.

Sự nỗ lực cố gắng của nhân dân cả nước, trong đó có phần đóng góp của nhân dân các dân tộc huyện Mai Châu đã làm nên chiến thắng lịch sử vang dội mùa Xuân năm 1975, thống nhất hai miền Nam - Bắc, đưa đất nước ta bước vào thời kỳ lịch sử mới, tươi sáng hơn, tốt đẹp hơn.

Tổng kết hai cuộc kháng chiến, quân và dân Mai Châu đã được tặng thưởng nhiều huân, huy chương các loại, nhiều bằng khen của Trung ương và tỉnh.

Trong thời kỳ đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhờ phát huy truyền thống anh dũng trong chiến đấu, Đảng bộ và nhân dân Mai Châu luôn luôn cố gắng phấn đấu đạt nhiều thành tích trong sản xuất, đảm bảo đời sống nhân dân ngày một no ấm hơn. Những năm vừa qua, huyện Mai Châu đã mạnh dạn đầu tư phát triển kinh tế, từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyến đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, đưa năng suất lúa lên 53,51 tạ/ha/năm.

Mặt trận an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội luôn được giữ vững, các tệ nạn xã hội bị đẩy lùi, công tác xây dựng lực lượng dân quân tự vệ luôn được kiện toàn cả về số lượng và chất lượng.

Công tác giáo dục thường xuyên được quan tâm chú ý. Toàn huyện đã thanh toán xong nạn mù chữ và được công nhận phổ cập giáo dục tiểu học, giáo dục mầm non lớp 5 tuổi. Cơ sở trường lớp được hiện đại hóa hoá, phục vụ tốt cho yêu cầu dạy và học, nhiều trường được công nhận là Trường chuẩn quốc gia.

Do có nhiều thành tích trong sản xuất và chiến đấu, ngày 22-8-1998, xã Tòng Đậu đã được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Ngày 18-6-2003, Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký quyết định phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân trong thời kỳ chống Pháp cho toàn thể cán bộ và nhân dân huyện Mai Châu.

Bôt sung thêm :
- Phong tục tập Quán của Người Thái
- Trang Phục
- Nhà Cửa Dân Tộc Thái
- Đặc Sản Mai Châu
- Đặc Sản Hoà Bình cũ ( Phú Thọ )
HDV có thể kể thêm 1 số địa điểm trên cung Đường từ Hà Nội về Mai Châu ( Phú Thọ )
+ Xã Mường Bi (Huyện Tân Lạc ( cũ) ) Phú Thọ có Dân Tộc Mường Bi và có Thác Trăng
+ Suối nước nóng Kim Bôi
+ Thuỷ Điện Hoà Bình
+ Động Thác Bờ

Address

Yên Bệ , Kim Chung
Hoài Đức
10000

Telephone

+84977710894

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Tư Liệu Dành Cho HDV posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Business

Send a message to Tư Liệu Dành Cho HDV:

Share