15/08/2022
LÂM TỲ NI – NƠI DỨC PHẬT ĐẢN SINH
Vườn thánh địa Lâm Tỳ Ni (Lumbini) - Nê Pan chính là nơi sinh của Đức Phật, Lâm Tỳ Ni thuộc quận Rupandehi thuộc Cộng hòa dân chủ liên bang Nepal nằm cách biên giới Sonauli Ấn Độ khoảng 36 km.
Lâm Tỳ Ni tọa lạc dưới chân dãy Himalaya. Cách 25 km về phía đông của kinh thành Ca Tỳ La Vệ xưa, nơi được cho là đức Phật đã sống đến 29 tuổi. Lâm Tỳ Ni có một số ngôi chùa và đền thờ trong đó có đền thờ Hoàng hậu Mada. Ngoài ra tại đây còn có ao Puskarini hoặc Holy, nơi Hoàng hậu Mayadevi (Mada) đã làm lễ nhúng nước trước khi sinh ra Siddhartha Gautama (Tất đạt đa), người sau này trở thành Phật Thích Ca và đã khai sinh ra Phật giáo.
Theo tục lệ truyền thống thời bấy giờ; khi Hoàng hậu Mayadevi (Mada) đang trên đường trở về nhà cha mẹ để sinh con đầu lòng thì Hoàng hậu Mayadevi (Mada) đã hạ sinh ra Đức Phật tại đây. Các tấm phù điêu ở đây mô tả cảnh Hoàng hậu Mayadevi (Mada) với tay phải cầm một nhánh của cây Sala (Shorea) với một đứa trẻ sơ sinh đứng thẳng trên những cánh hoa sen, xung quanh đầu đổ một vầng hào quang hình bầu dục, với sự xuất hiện của các chư thiên của nhà trời đến tán thán và rải hoa cúng dường.
Tương truyền khi được sinh ra tại đây Đức Phật đã đứng vững thăng bằng trên hai chân, mặt hướng về phía Bắc đi bảy bước, mỗi bước đi của đức Phật đều được đỡ bởi một tòa sen phía dưới, Ngài nhìn khắp cả bốn phương, một tay chỉ lên trời một tay chỉ xuống đất và nói rằng: "Ta là đấng Vô Thượng Đạo Sư của Trời Người"(Thiên thượng thiên hạ, duy Ngã độc tôn).
Từ vườn thánh địa Lâm Tỳ Ni, tin Hoàng hậu Ma Gia vừa hạ sanh Thái tử truyền về kinh thành làm nức lòng người, cờ xí rợp trời, trống kèn vang dậy, dòng người đi về Lâm Tỳ Ni đông vui như trẩy hội. Vua Tịnh Phạn (Siddhartha Gautama) vô cùng vui mừng, đích thân nhà Vua đến Lâm Tỳ Ni rước Hoàng hậu và Thái tử về cung, rồi đức vua cho mời các thầy đạo sĩ đến coi tướng cho Hoàng tử. Tất cả đều nói rằng, Hoàng tử có đủ cả 32 tướng tốt, trên đời không ai sánh bằng. Đức vua đặt tên cho Hoàng tử là Tất Đạt Đa, cũng phong Hoàng tử làm Thái tử nối ngôi.
Sau khi Thái tử Tất Đạt Đa sinh ra được bảy ngày thì Hoàng hậu Mayadevi, thân mẫu của Ngài qua đời. Ngài được vua cha trao cho bà dì Maha Ba Xà Ba Đề (Maha Pajapati Gotami) nuôi nấng, dạy dỗ theo lời trăng trối của Hoàng hậu.
Vì đước Vua muốn Thái tử Tất Đạt Đa nối nghiệp mình, Vua cha đã cho nhiều người danh tiếng dạy dỗ cho Ông rất kỹ lưỡng, cho Ông hưởng đầy đủ vinh hoa phú quý, nhất là không để Ông tiếp xúc với cảnh khổ của cuộc đời.
Năm lên 17 tuổi, Ông kết hôn với công chúa Da du đà la (Yaśodharā) của thị tộc Koli
Các dục lạc không thể giữ chân Ông. Mặt khác nhân duyên không thể tránh khỏi, sau bốn lần ra bốn cửa thành và thấy cảnh người già, người bệnh, người chết và một vị tu sĩ, ông đã phát tâm tu hành quyết định sống cảnh không nhà của một tu sĩ để trở thành: Đấng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác
Ngoài vườn thánh địa Lâm Tỳ Ni nơi đây cũng còn phần còn lại của cung điện Ca Tỳ La Vệ.
Lâm Tỳ Ni là một khu vườn xinh đẹp và đầy màu xanh nằm giữa Ca Tỳ La Vệ và Devadaha ở Nepal, đã bị bỏ quên trong nhiều thế kỳ. Năm 1895, Feuhrer, một nhà khảo cổ học nổi tiếng người Đức đã phát hiện các trụ cột lớn tại đây trong khi ông đi đến các vùng đồi thấp của dãy núi Churia. Tiến hành thăm dò và khai quật khu vực xung quanh người ta phát hiện một ngôi đền bằng gạch và đá sa thạch điêu khắc những cảnh sinh thành của Đức Phật. Vào năm 1996 một phát hiện khảo cổ quan trọng về một cột đá mà vua A Dục vào năm 249 TCN đã dùng để đánh dấu vị trí nơi sinh của Đức Phật vào 2600 năm trước.
Thánh địa Lâm Tỳ Ni ngày nay được biết đến, nhờ có công của vua A Dục (Ashoka). Hai mươi năm sau ngày đăng quang lên ngôi hoàng đế, Vua A Dục đã đích thân đi chiêm bái đảnh lễ các Thánh tích và chính Vua đã sai người dựng một trụ đá để ghi dấu nơi Đức Phật đản sanh. Nhờ đó vào năm 1806, Vườn Lâm Tỳ Ni được tìm thấy do ông Furere, sau khi thâu thập đủ chứng cứ lịch sử, nhất là tìm gặp trụ đá của vua A Dục dựng, ông Furere tuyên bố: “Chỗ này là vườn Lâm Tỳ Ni, nơi Đức Phật đản sanh”, rồi sau đó được chính phủ Nepal công nhận, và từ đó Lâm Tỳ Ni được biết như hiện nay.
Trụ đá do vị Vua Hộ Pháp dựng, hiện nay vẫn còn tốt đẹp và được xem như một biểu tượng linh thiêng, hằng ngày, hàng ngàn Phật tử vẫn thường dâng hương lễ bái và tụng niệm bên trụ đá ấy. Trên trụ đá có khắc dòng chữ: “Đây là chỗ Đức Gautama đản sanh”. Trong ký sự Tây du của mình, ngài Huyền Trang có miêu tả thêm rằng: “Đầu trụ đá có hình con ngựa rất mỹ thuật và trơn láng”, nhưng hiện nay, hình con ngựa tuyệt đẹp ấy vẫn chưa tìm thấy. Trên thân trụ đá có khắc dòng chữ Brahmi, lược dịch như sau: “Vua Pryadarsi, được các vị thiện thần kính mến và ủng hộ, thân hành đến đảnh lễ tại chỗ này, sau khi lên ngôi được 20 năm. Chỗ này là nơi đản sanh của đức Sakyamuni. Vua truyền lệnh cho dựng một trụ đá tại đây để đánh dấu nơi đức Thế Tôn xuất thế. Vua truyền lệnh dân làng Lumbini được miễn đóng thuế nghi lễ và chỉ chi trả một phần tám thuế lợi tức mà thôi”. Chính trụ đá này chỉ rõ cho chúng ta biết chắc chắn chỗ này là nơi Đức Phật đản sanh.
Trước khi thăm dò và khai quật nhiều năm hai vị danh tăng Trung Hoa là Pháp Hiển (337 - 422) và Huyền Trang (602 - 664) cũng đã ít nhiều đã ghi lại những dấu tích về Lâm Tỳ Ni trong các tác phẩm để đời của các Ngài sau những lần chiêm bái quê hương Đức Phật. Và cũng nhờ vào các bộ "ký sự" của hai vị sư này, vào năm 1896 (khoảng 2500 năm sau) nhà khảo cổ người Nepal đã khai quật và phát hiện "sắc dụ Asoka" (trụ đá A Dục) trên vùng đất có tên "Rummindei" sau gần mười thế kỷ Lâm Tỳ Ni hoang phế, điêu tàn và rơi vào quên lãng, kể từ ngày các thánh địa Phật giáo bị tàn phá, khủng bố dưới bàn tay những kẻ cuồng tín Hồi giáo xâm chiếm Ấn Độ vào cuối thế kỷ thứ 11 đầu thế kỷ thứ 12.
Ở thánh địa Lâm Tì Ni nơi mà Đức Phật được sinh ra có những vườn cây Sala (Vô Ưu) hoa nở trắng, những cây Bồ đề cổ thụ tỏa bóng, dưới góc cây những bầy sóc quẩn quanh nhỡn nhơ. Đặc biệt ở đây còn có đền thờ hoàng hậu Mayadevi (Mada) được xây dựng khoảng thế kỷ thứ ba trước công nguyên, bên trong còn có phiến đá khắc họa sự tích Đức Phật được sinh ra. Ỏ đây còn có hồ Pushhkarni hình chữ nhật kè gạch đá rất đẹp, nơi hoàng hậu Mayadevi (Mada) đã tắm trước khi lâm bồn và cũng là nơi mà hoàng tử Tất Đạt Đa (Đức Phật vĩ đại sau này) được tắm lần đầu tiên sau khi sinh ra.
Ngày nay Lâm Tỳ Ni đã có hơn 20 nước được cấp đất xây chùa. Người dân địa phương gọi đây là liên hiệp quốc Phật giáo với kiến trúc các chùa đặc trưng của từng nước.
Từ năm 1997, UNESCO chính thức công nhận Lâm Tỳ Ni là di sản văn hoá thế giới, tiếp tục khai quật, trùng tu và tôn tạo Lâm Tỳ Ni. ....................................................................................................................
Tìm thêm nguồn tư liệu đề có bài thuyết minh phong phú.....................................................................................................................
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni được sinh ra vào năm 623 trước Công Nguyên tại khu vườn nổi tiếng Lâm Tỳ Ni, nơi đã sớm trở thành một địa điểm hành hương của các tín đồ Phật Giáo. Một trong số những người đã từng hành hương đến đây là hoàng đế Ashoka của Ấn Độ, người đã cho xây dựng hàng văn bia lưu dấu tại nơi đây. Khu vườn hiện đang được phát triển thành trung tâm hành hương Phật giáo với các di tích liên quan đến sự ra đời của Đức Phật.
Những Giá Trị Nổi Bật
Đức Phật được hạ sinh vào năm 623 trước Công nguyên trong khu vườn Lâm Tỳ Ni vùng đồng bằng Terai miền nam Nepal, những sự kiện này được ghi lại trên hàng văn bia do Hoàng đế Asoka dựng lên khi Ngài đến thăm khu di tích này vào năm 249 trước Công nguyên. Lumbini là một trong những nơi linh thiêng nhất của Phật Giáo, một trong những tôn giáo lớn trên thế giới. Những di tích còn sót lại là các bằng chứng quan trọng cho thấy trung tâm hành hương Phật giáo Lâm Tỳ Ni đã tồn tại từ thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên.
Tổ hợp kiến trúc bên trong khu di tích bao gồm bể nước, phần còn lại của ngôi đền Maya Devi bao gồm kết cấu gạch với các dãy tường được xây dựng từ thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên và hàng văn bia bằng đá sa thạch do vua Ashoka xây dựng trên đó có chạm khắc các dòng chữ bằng tiếng Brahmi. Ngoài ra còn có di tích của các tinh xá (tu viện Phật giáo) được xây dựng từ thế kỷ thứ 5 đến thứ 3 trước công nguyên, di tích các mộ tháp được xây dựng từ thế kỷ thứ 3 trước công nguyên đến thế kỷ thứ 15 sau công nguyên. Nơi này hiện đang được phát triển thành trung tâm hành hương Phật giáo với các di tích nơi Phật Đản Sinh.
Tính Toàn Vẹn
Nguyên bản của vườn Lâm Tỳ Ni cùng với các di tích khảo cổ học bao gồm các đặc điểm có giá trị toàn cầu đã được bảo tồn. Ngoài ra, còn có một vùng đệm bao quanh để bảo vệ khu vườn. Các cuộc khai quật tiếp theo tại các khu vực khảo cổ và các công tác bảo tồn các di vật khảo cổ là ưu tiên hàng đầu sao cho khu vườn giữ được nét đẹp ban sơ từ thời Đức Phật. Khu vực di tích không bao gồm khu vực khảo cổ và vùng đệm. Toàn bộ khu di tích và cả vùng đệm đều thuộc sở hữu của chính phủ Nepal, do quỹ tín thác Phát triển vườn Lâm Tỳ Ni quản lý, vì thế rủi ro khu di tích bị xuống cấp vì lý do phát triển quá nhanh hoặc bị bỏ bê là rất thấp. Tuy nhiên, việc phát triển công nghiệp trong khu vực cũng có thể là một mối đe dọa đến việc giữ gìn nguyên bản di tích lịch sử này.
Tính Xác thực
Sau một loạt các cuộc khai quật, từ năm 1896, các nhà chuyên môn đã xác nhận đây chính là nơi Đức phật Đản sinh, khi khám phá ra hàng văn bia do nhà Vua Ashoka xây dựng. Những di tích còn lại của tịnh xá, tháp miếu và các bức tường gạch được xây dựng từ thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên đến nay của đền Maya Devi cho ta thấy Lumbini đã là một trung tâm hành hương từ rất lâu. Các di vật khảo cổ cần được kiểm tra, giám sát và bảo tồn một cách tích cực để bảo đảm rằng các tác động của thiên nhiên, độ ẩm và số lượng đông đảo khách viếng thăm không làm cho di tích này xuống cấp. Vườn Lâm Tỳ Ni vẫn tiếp tục thể hiện giá trị độc đáo của mình thông qua các di tích khảo cổ học khai quật được.
Cần phải có sự cân bằng tinh tế để bảo tồn giá trị những di tích khảo cổ học của khu vườn Lâm Tỳ Ni trong khi vẫn mở cửa phục vụ đông đảo kháchhành hương đến viếng thăm.
Yêu cầu bảo vệ và quản lý
Khu di tích được bảo vệ theo Đạo luật Bảo Quản Các Công Trình Cổ Đại ban hành năm1956. Khu vườn Lâm Tỳ Ni hiện đang nằm dưới sự quản lý của quỹ Tín Thác Phát Triển Lâm Tỳ Ni, một tổ chức phi lợi nhuận độc lập. Toàn bộ tài sản này thuộc quyền sở hữu của chính phủ Nepal. Khu vườn nằm trong khu vực quy hoạch tổng thể, được khởi xướng với sự hỗ trợ của Liên hợp quốc do Giáo sư Kenzo Tange đảm trách trong giai đoạn 1972-1978.
Những thách thức lâu dài đối với việc bảo vệ và quản lý Khu di tích là việc kiểm soát các tác động của du khách viếng thăm, tác động của thiên nhiên bao gồm cả độ ẩm, nắng, gió và sự phát triển công nghiệp trong khu vực. Một kế hoạch quản lý đang được thực hiện để bảo đảm bảo vệ được các di tích khảo cổ của khu vườn trong dài hạn trong khi vẫn mở cửa chào đón những đoàn khách người hành hương và khách du lịch từ khắp nơi trên thế giới đến viếng thăm.
(Nguồn: Cập nhật: 07/05/2017 Khu Vườn Lâm Tỳ Ni (chuahoangphap.com.vn)
Tìm Lại Dấu Vết Vườn Lâm Tỳ Ni
Trụ đá Vua A Dục
Trong kinh Đại Bát Niết Bàn, Đức Phật hứa khả rằng, có bốn thánh tích mà bất cứ thiện nam tín nữ nào đến chiêm bái với lòng thành kính sẽ hưởng được phước báu vô lượng. Đó là: Nơi Phật đản sanh, nơi Phật thành đạo, nơi Phật chuyển pháp luân, và nơi Phật nhập niết bàn. Đối với người Phật tử, nhu cầu thăm viếng những thánh tích này không hẳn chỉ để tìm cầu phước báu mà hơn thế nữa, đó là một ước mơ, một nhu cầu tâm linh, một tình cảm tôn giáo.
Không phải là Phật tử, thế nhưng đối với những nhà khảo cổ học và Đông phương học người Anh, việc truy tìm lại dấu vết vườn Lâm Tỳ Ni, nơi Phật đản sanh là một thôi thúc, một mối ám ảnh lớn lao. Tuy nhiên Phật giáo hầu như đã hoàn toàn biến mất tại Ấn Độ từ bao nhiêu thế kỷ qua. Mảnh đất nơi Đức Phật chào đời và lớn khôn, mảnh đất nuôi dưỡng một thời huy hoàng, bình minh của nền văn minh Phật giáo đã không còn lưu lại một vết tích nào. Tang thương dâu biển đã biến những kinh thành tráng lệ của một thời xa xưa thành những cánh rừng hoang vu bất tận không dấu chân người. Đi tìm lại ngôi vườn xưa giữa một vùng núi rừng bao la bát ngát của xứ Ấn Độ quả là chuyện mò kim đáy biển, một thách đố lớn lao đối với những nhà Đông phương học. Thế nên việc tìm và khôi phục lại thánh tích Lâm Tỳ Ni -ngày nay hằng năm thu hút hàng triệu người đến hành hương chiêm bái- là cả một công trình tim óc lớn lao của không biết bao nhiêu người, trải dài hơn nửa thế kỷ. Nói là công trình tim óc, bởi vì những nhà Đông phương học, khảo cổ Tây phương này đến với xứ Ấn Độ thuộc Anh không phải chỉ được võ trang bằng những kiến thức hàn lâm, những phương tiện kỹ thuật mới mẻ mà điều quan trọng hơn, họ là những người rất nặng lòng với Phật giáo. May mắn thay cho họ, và cho tất cả những Phật tử chúng ta, chuyện mò kim đáy biển này đã được thành tựu nhờ hai bộ cẩm nang chỉ đường quý giá của hai bậc danh tăng lỗi lạc Trung Quốc, Pháp Hiền đời Đông Tấn và Huyền Trang đời Đường. Cả hai ngài đã để lại hai bộ ký sự nổi tiếng “Phật Quốc Ký” và "Đại Đường Tây Vưc Ký", ghi lại những chi tiết quý giá trên đường hành hương vào đất Phật. Những chi tiết này đã chiếu dọi lên những tia sáng mà nhờ đó các nhà Đông phương học và khảo cổ học người Anh có cơ sở truy tìm lại dấu vết nơi Phật đản sanh -vườn Lâm Tì Ni- cũng như quê hương của Phật, thành Ca Tì La Vệ.
Pháp Hiền, Huyền Trang Và Cuộc Hành Hương Chiêm Bái Đất Phật
Ngài Pháp Hiền xuất phát từ Tràng An năm 399 vượt qua những những sa mạc mênh mông không dấu chân người, những vùng đất hoang dã miền Tây vực, quê hương của những bộ tộc người Hung nô, băng ngang qua khu vực thượng lưu sống Ấn hà và cuối cùng đặt chân đến phía bắc Punjab và A phú Hản - tức là vùng văn hoá Phật giáo nổi tiếng Càn Đà La trải dài đến tận Mathura với hàng trăm chùa tháp, tự viện trong từng mỗi thôn ấp. Từ Mathura ngài Pháp Hiền xuôi về hướng Đông, nơi Đức Phật ra đời và hoằng truyền chánh pháp. Điều ngạc nhiên đối với ngài Pháp Hiền là, càng đi về hướng Đông Bắc quang cảnh ngày càng tiêu sơ hoang dã, chỉ thỉnh thoảng mới thấy rải rác một vài Tịnh xá đó đây. Khi ngài đặt chân đến thành Ca Tì La Vệ và vườn Lâm Tì Ni thì hai thánh tích này đã hoàn toàn hoang phế. Từ đây, ngài đi về hướng đông nam, viếng thăm nơi Đức Phật nhập niết bàn, và bước vào kinh thành Xá Vệ, thủ phủ của xứ Lichchavis. Vượt qua sông Hằng, ngài Pháp Hiền đặt chân đến kinh thành Hoa Thị (Pataliputra,) thủ phủ của vương quốc Ma Kiệt Đà, mà trung tâm là một vương thành tráng lệ, nơi mà ngài Pháp Hiền mô tả như là một thành phố trù phú vào bậc nhất tại Ấn Độ đương thời.
Từ kinh thành Hoa Thị ngài đi về hướng Nam đến vương thành Rajagriha, cố đô của vị quân vương Phật tử nổi tiếng Bình Sa Vương, vùng đất một thời vàng son của Phật giáo. Nhưng nơi đây nay cũng đã hoàn toàn hoang phế, những gì còn lưu dấu lại những chùa tháp và hang động có giá trị lịch sử gắn liền với những sinh hoạt của Đức Phật và những đại đệ tử lúc còn tại thế. Cách Rajagriha không xa là quê hương của Xá Lợi Phất, nơi mà vị thánh tăng đã chọn để nhập niết bàn. Sau khi thăm viếng nơi này, ngài Pháp Hiền tiếp tục đi về hướng Nam, viếng thăm Bồ Đề Đạo Tràng và những thánh tích nổi tiếng. Sau đó Ngài Pháp Hiền trở lại kinh thành Hoa Thị, trú ngụ tại một Tịnh xá trong suốt ba năm, bắt đầu công trình nghiên cứu và sao chép kinh sách. Rồi từ đây ngài Pháp Hiền xuôi dọc theo sông Hằng vượt biển đến Tích Lan, chiêm bái hai thánh tích nổi tiếng là cây Bồ Đề được chiết từ cây bồ đề gốc nơi Đức Phật thành đạo và xá lợi răng Phật. Ngài Pháp Hiền trở lại Trung Quốc vào năm 414 bằng đường biển, kết thúc cuộc hành hương kéo dài suốt 14 năm.
Hơn hai trăm năm sau (629), ngài Huyền Trang dưới thời Đường Thái Tông cũng phát xuất từ Trường An, lên đường vào Tây Trúc qua "Con Đường Lụa" nối liền Ấn Độ-Trung Quốc. Cuộc hành hương chiêm bái của vị tăng sĩ 27 tuổi nổi tiếng này đã được huyền thoại hoá qua tác phẩm Tây Du Ký làm say mê hàng bao nhiêu thế hệ người đọc tại Trung Quốc cũng như Việt Nam. Băng qua Ngọc Môn Quan, cửa ải cuối cùng của đế quốc Trung Hoa với vùng Tây Vực, ngài Huyền Trang bắt đầu một cuộc hành trình gian khổ, đối đầu với bao nhiêu gian nguy thử thách của thiên nhiên hiểm trở, của những băng đảng cướp của giết người không gớm tay. Có lần lạc lối trong sa mạc Đại Qua Bích (Gobi), một biển cát bao la kéo dài bất tận, không có bóng chim bay, không có sinh vật sống, tưởng như sắp chết đến nơi, nhưng với lòng tin kiên cố vào Tâm Kinh, vào Bồ Tát Quán Thế Âm, ngài đã vượt thoát tử thần một cách mầu nhiệm, và cuối cùng đặt chân đến Mathura, một trung tâm văn hoá quan trọng của Ấn Độ vào năm 634.
Từ Mathura, ngài Huyền Trang đã ghé lại Ayodhya, thăm viếng ngôi tu viện cổ kính nơi mà trước đây ngài Thế Thân, vị tổ của Duy Thức đã từng tu tập và cải đổi từ Tiểu thừa sang Đại Thừa. Sau đó, vượt qua dòng sông Hằng, ngài Huyền Trang đi về hướng Bắc và bắt đầu bước vào vùng thánh địa Phật Giáo. Cũng như Pháp Hiền trước đây, trạm dừng chân đầu tiên của ngài Huyền Trang là kinh thành Xá Vệ, quê hương của vị quân vương Phật tử nổi tiếng Ba Tư Nặc. Cố đô Xá Vệ và tất cả những tu viện Phật giáo ở đây nay đã hoàn toàn hoang phế, kể cả vườn Kỳ Viên của Thái Tử Kỳ Đà, nơi mà Đức Phật thành lập cộng đồng Phật giáo đầu tiên, đồng thời cũng là nơi mà Ngài cho phép thành lập Ni bộ. Từ Xá Vệ đi về hướng Tây Bắc, ngài Huyền Trang đặt chân đến kinh thành Ca Tì La Vệ, bây giờ chỉ còn trơ lại những bức tường đổ nát. Cách đó không xa là một ngôi cổ tháp ghi dấu vị tiên A Tư Đà đã tiên đoán về tương lai của Thái tử Tất Đạt Đa. Ở cửa Đông thành Ca Tì La Vệ là một ngôi đền kỷ niệm chuyến ra khỏi hoàng cung lần đầu tiên của Thái tử, đối diện với thực tại sinh, lão, bệnh, tử. Đi khoảng 9, 10 dặm về hướng Tây vương thành Ca Tì La Vệ là vườn Lâm Tì Ni. Tại đây ngài trông thấy một trụ đá do vua A Dục dựng lên, với những hàng chữ ghi dấu kỉ niệm nơi Đức Phật đản sanh. Trụ đá này được khám phá vào năm 1895 và là một đầu mối quan trọng cho các nhà khảo cổ, Đông phương học trong việc xác định vị trí chính xác của vườn Lâm Tì Ni sau này. Chúng ta tạm dừng cuộc hành hương chiêm bái đất Phật của ngài Huyền Trang tại đây để đi vào nỗ lực truy tìm lại dấu vết của một trong những thánh tích quan trọng của Phật giáo sau hơn 1000 năm mất dấu.
Nỗ Lực Truy Tìm Lại Dấu Vết Vườn Lâm Tỳ Ni
Tập "Phật Quốc Ký" đã được Jean Pière Abel Rémusat dịch ra tiếng Pháp "Foe Kuoe Ki" vào năm 1837. Mười một năm sau, năm 1848, ấn bản tiếng Anh ra đời: "The Pilgrimage of Fa Hian from the French Edition of the Foe Kuoe Ki of MM Rémusat, Klaproth and Landresse". Với ấn bản tiếng Anh trong tay, những nhà khảo cổ và Đông phương học đã có một cơ hột tốt đẹp để thử nghiệm sự chính xác về những gì đã được ghi lại trong chuyến hành hương của ngài Pháp Hiền.
Như đã nói ở trên, công việc truy tìm lại dấu vết nơi Phật đản sanh là một nỗ lực của rất nhiều người, nhiều tổ chức, kéo dài qua nhiều thập niên trong số đó phải kể đến một số tên tuổi nổi bật như James Prinsep, Alexander Cunningham, Vincent Smith... Tuy nhiên hai nhân vật then chốt đã hoàn tất những nỗ lực cuối cùng trong việc đưa Lâm Tì Ni và Ca Tì La Vệ ra ánh sáng là Bác sĩ Lawrence Austine Waddell, một quân y sĩ phục vụ trong quân đội Hoàng gia Anh và Tiến sĩ Fuhrer, chuyên gia về Đông phương và khảo cổ học của chính phủ Anh. Bác sĩ Waddell là một nhân vật khá đặc biệt. Sinh trưởng trong một gia đình mục sư Tin Lành theo hệ phái Presbyterian, tuy nhiên trong thời gian bảy năm phục vụ tại Darjeeling, ông bắt đầu say mê nghiên cứu Phật giáo Tây Tạng. Được phục vụ tại Ấn Độ là một cơ duyên tốt để ông theo đuổi một giấc mơ không ngừng ám ảnh mình, là lần theo dấu chân của hai nhà hành hương Pháp Hiền và Huyền Trang tìm lại dấu vết nơi Phật đản sanh.
Như ánh sáng lóe lên ở cuối đường hầm, nỗ lực truy tìm dấu vết vuờn Lâm Tỳ Ni chuyển qua một khúc quanh quan trọng khi tháng 3 năm 1893, Thiếu tá Jaskaran Sìngh của chính phủ Nepal tình cờ trong một chuyến săn bắn ở khu rừng Nigliva, phía bắc Ba La Nại (Benares) gần biên giới Ấn Độ - Nepal có nghe phong phanh những thổ dân địa phương nói đến vết tích của một trụ đá còn lưu dấu ở đây. Hàng bao thế kỷ qua, đây là một vùng rừng rậm hoang vu không người lai vãng ngoại trừ một nhóm nhỏ thổ dân đã được miễn dịch khỏi căn bệnh sốt rét rừng ác tính hoàn hành trong những khu rừng nhiệt đới này. Ông liền nhờ họ dẫn đến khu vực này và sau khi dọn dẹp cây cối chung quanh đã tìm thấy ngoài trụ đá nằm nghiêng đổ trên mặt đất bên cạnh đó là một cái bệ còn nguyên vẹn có khắc bốn dòng chữ bằng cổ ngữ.
Sự phát hiện của Thiếu Tá Jaskaran Sìngh dẫn đến việc chính phủ Nepal thỉnh cầu chính phủ Ấn Độ giúp giải mã bốn hàng chữ khắc trên bệ đá và đây là đầu mối dẫn đến những sự kiện lịch sử sau này trong việc truy tìm lại dấu vết của nơi Phật đản sanh. Nhận được tin này một phái đoàn khảo sát của Tiến sĩ Fuhrer đã lập tức tìm đến khu vực này và tìm ra trụ và bệ đá không mấy khó khăn. Tuy nhiên không hiểu vì một lý do thầm kín nào đó, mãi một năm sau, tháng 4 năm 1895, bản dịch này mới được công bố trên tờ The Academy, nguyên văn như sau: "Khi vị quân vương được chư Thần thương yêu, Piyadasi, thụ phong được 14 năm, người đã cho nâng cấp ngôi tháp thờ vị cổ Phật Konakamana lên lần thứ hai, và sau khi thụ phong ... năm, người đã đích thân đến đảnh lễ ngài, tạo nên..." Điều đáng nói là trong bản ghi chú của Tiến sĩ Fuhrer, ông ta đã không đề cập đến hoặc không nhận ra rằng danh hiệu của vị cổ Phật Konakamana được nhắc đến trong trụ đá của vua A Dục chính là vị Phật Kanakamuni trong Phạn ngữ Sanskrit. Chi tiết này vô cùng quan trọng vì cả hai nhà chiêm bái Pháp Hiền và Huyền Trang đều đã đến viếng ngôi tháp Kanakamuni này và cho biết vị trí của nó thuộc vùng phụ cận vương thành Ca Tỳ La Vệ và vườn Lâm Tỳ Ni.
Ngài Huyền Trang còn mô tả một cách chi tiết hơn về vị trí của ngôi tháp này. Để đến ngôi tháp Kanakmuni, ngài đã khởi hành từ thành Ca Tì La Vệ đi về hướng Nam khoảng 50 lý -khoảng 10 miles- đến một cổ thành và từ cổ thành này ngài đi thêm khoảng 30 lý, tức 6 miles về hướng Đông Bắc. Ngài còn mô tả thêm là đã trông thấy ở đây ba ngôi tháp khác, trong đó một ngôi tháp được truyền tụng là thờ xá lợi của Phật Kanakamuni. Trước mặt ngôi tháp thứ ba này là "một trụ đá cao khoảng 20 feet mà trên đỉnh là một con sư tử cùng với những lời Phật dạy trước khi nhập niết bàn ở chung quanh. Trụ đá này cũng do vua A Dục dựng lên." Như vậy, nếu trụ đá A Dục do Thiếu Tá Jaskaran Sìngh tìm thấy tại Nigliva cho ta biết vị trí của tháp thờ cổ Phật Kanakamuni và nếu phương hướng mà ngài Huyền Trang ghi lại là đúng đắn thì chắc chắn rằng vương thành Ca Tỳ La Vệ cũng như vườn Lâm Tỳ Ni, nơi Phật đản sanh, chỉ nằm trong khoảng vài dặm về hướng Tây Bắc của trụ đá này.
Với những phát hiện này và lời hướng dẫn trong cuốn ký sự của ngài Huyền Trang, Bác sĩ Waddell đã lịch sự viết một bức thư cho Tổng Thư Ký của Hiệp Hội Á Châu Bengal (The Asiatic Society of Bengal), tỏ ra ngạc nhiên là đã không có ai quan tâm đến việc phát hiện trụ đá A Dục tại Nigliva, mà ông cho là "một sự kiện quan trọng còn vượt xa hơn cả những hàng chữ khắc trên trụ đá, bởi vì nó cung cấp một đầu mối quan trọng cho việc khám phá nơi đản sanh của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni... Trụ đá Konalkamana tìm thấy trong cánh rừng của xứ Nepal có vẻ như đang ở trong vị trí nguyên thủy, trong một địa hình đáng tin cậy, và theo như lời hướng dẫn của Huyền Trang thì "thành phố" Ca Tỳ La Vệ chỉ nằm trong vòng 7 dặm hướng Tây-Bắc của trụ đá này."
Tuy nhiên Bác sĩ Waddell đã không dấu được nỗi bất bình khi nhận được thư trả lời thiếu nhiệt tình của vị Tổng Thư Ký báo cho biết vấn đề này sẽ được đem ra thảo luận trong phiên họp tới của Hiệp Hội, khoảng hai tháng sau, tỏ ra Hiệp Hội đã không quan tâm mấy đến sự kiện quan trọng này. Bác sĩ Waddell quyết định đưa vấn đề ra công luận. Trong bài viết dưới tựa đề: "Đâu là nơi Phật Đản Sanh?", đăng trên tờ Englishman, Calcutta ông khẳng định rằng, "Nơi Phật Thích Ca Mâu Ni đản sanh từ lâu mất dấu, chắc chắn nằm trong khu vực NepaleseTarai, khoảng 7 dặm hướng Tây Bắc ngôi làng Nigliva của Nepal ... Rằng, Lâm Tỳ Ni hay vườn Lâm Tỳ Ni nằm trong khoảng từ 3 đến 4 dặm phía Bắc ngôi làng này." Cho rằng mọi người đang đứng trước ngưỡng cửa của một trong những khám phá quan trọng hàng đầu của thế kỷ của ngành khảo cổ học Ấn Độ, Bác sĩ Waddell kêu gọi chính phủ Ấn Độ tiến hành những bước sớm nhất nhằm đạt đến những thỏa thuận với chính phủ Nepal trong việc khảo sát toàn bộ khu vực này.
Bài viết của Bác sĩ Waddell lập tức được đăng lại bởi tất cả các báo chí Anh ngữ tại Ấn Độ, tạo nên một luồng sóng quan tâm hưởng ứng của công luận. Thế là trong tuần lễ cuối cùng của tháng 11, 1896 ba phái đoàn khảo sát đã được gởi đến vùng này, một của Nepal và hai của Ấn Độ dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ Fuhrer, tất cả đều nhận được sự giúp đỡ của vị Thống Đốc địa phương, Tướng Khadga Rana. Tuy nhiên Tướng Khadga Rana, do nhận được một bức thư riêng từ Bác sĩ Waddell, đã cho tiến hành khai quật một trụ đá khác cạnh ngôi làng Rumindei cách Nigliva khoảng 10 dặm, do Duncan Ricketts phát hiện vào năm 1885. Đào sâu xuống mặt đất khoảng 3feet, người ta tìm thấy năm hàng chữ khắc trên trụ đá còn nguyên vẹn. Đây là một trụ đá khác do vua A Dục dựng lên mà mục đích đã được ghi rõ qua hàng chữ còn lưu lại: Vua Piyadasi, Người được chư Thần thương yêu, sau khi trị vì đất nước 20 năm, đã đến nơi đây, cung kính đảnh lễ, phán rằng, "Đây là nơi Phật Thích Ca Mâu Ni đản sanh", và cho dựng lên một trụ đá xác minh: "Đây là vườn Lâm Tỳ Ni, nơi đản sanh của Đấng Thế Tôn."
Không còn nghi ngờ gì nữa, cuối cùng người ta đã tìm thấy vị trí chính xác của vườn Lâm Tỳ Ni, nơi Phật đản sanh.
Đã tìm thấy vườn Lâm Tỳ Ni thì việc truy tìm dấu vết của vương thành Ca Tỳ La Vệ sẽ không gặp mấy khó khăn. Bác sĩ Waddell, căn cứ vào cuốn Đại Đường Tây Vực Ký của ngài Huyền Trang, xác quyết rằng vương thành Ca Tỳ La Vệ "nằm vào khoảng 7 dặm hướng Tây Bắc của ngôi làng Nigliva." Theo lời hướng dẫn này, Tiến sĩ Fuhrer đã tìm ra vị trí của cổ thành hoang phế Ca Tỳ La Vệ. Ngày 23 tháng 12, tờ Allahhabad Pioneer đã cho đăng độc quyền hai công trình khám phá quan trọng này. Năm ngày sau, tờ Times của London và một số báo chí tầm cỡ quốc gia khác đã cho đăng lại công trình khám phá vườn Lâm Tỳ Ni và vương thành CaTỳ La Vệ. Tiến sĩ Fuhrer đã giải thích một cách chi tiết vìệc khám phá thành Ca Tỳ La Vệ như sau:
Việc khám phá trụ đá A Dục tại vườn Lâm Tỳ Ni, làng Rumindei, đã giúp tôi điều chỉnh một cách tuyệt đối chính xác khu vực vương thành Ca Tỳ La Vệ và những thánh tích tôn nghiêm trong vùng phụ cận. Cảm ơn những ký sự rất mực chính xác ghi lại bởi hai nhà hành hương chiêm bái Trung Quốc đã giúp tôi khám phá ra vương thành hoang phế, khoảng 18 dặm hướng Tây Bắc trụ đá Lâm Tỳ Ni và 6 dặm hướng Tây Bắc ngôi làng Nigliva... Toàn bộ khu vực này bây giờ cũng hoang phế thê lương như Pháp Hiền và Huyền Trang đã chứng kiến trước đây, tuy nhiên mỗi một thánh tích mà hai nhà hành hương chiêm bái này ghi nhận đều được xác minh một cách dễ dàng.
Trong công trình khám phá này, Tiến sĩ Fuhrer đã dành hết mọi công trạng về mình, từ việc khám phá trụ đá đầu tiên tại làng Nigliva, cho đến việc khám phá trụ đá Lâm Tỳ Ni ngày 1 tháng 12 năm 1896, cũng như vương thành Ca Tỳ La Vệ. Công bằng mà nói, Bác sĩ Waddell là người tiên phong, phải có một vị trí xứng đáng, và phải được chia sẻ vinh dự trong hai phát hiện quan trọng này.
Kết Luận
Nỗ lực truy tìm lại dấu vết nơi Phật đản sanh được thành tựu trước tiên phải ghi nhận là do chính sách khoan dung tôn giáo và văn hoá của vương quốc Anh. Xâm chiếm và đô hộ Ấn Độ, người Anh đã không làm những công việc như các thế lực đế quốc và thực dân khác đã làm, tức là tìm cách xoá bỏ nền văn hóa và tôn giáo bản địa. Thay vì Kitô hoá Ấn Độ, người Anh đã cho phục hồi lại những giá trị văn hoá, tôn giáo cổ truyền của người Ấn. Dĩ nhiên chính sách này đã bị chống đối bởi phe bảo thủ, nhưng cuối cùng phe cấp tiến đã thắng thế, thế nên công trình tìm kiếm vườn Lâm Tỳ Ni đã được sự ủng hộ nhiệt thành của cả chính phủ thuộc địa Anh tại Ấn, chính quyền Bengal và chính phủ Nepal.
Hơn 100 năm sau ngày khám phá ra nơi Phật đản sanh, khuôn mặt vườn Lâm Tỳ Ni nay đã đổi khác. Từ một nơi rừng rậm hoang vu, quê hương của rắn rết và muỗi mòng của bệnh sốt rét rừng ác tính, vườn Lâm Tỳ Ni nay đã trở lại vị thế xứng đáng của một thánh địa hàng đầu của Phật giáo, thu hút hàng triệu Phật tử khắp thế giới về hành hương chiêm bái mỗi năm. Viếng thăm Lâm Tỳ Ni, tắm mát trong suối nguồn Phật giáo, theo dấu những bước chân của đấng Từ phụ đã bước đi trên hai ngàn năm trăm năm trước đây, người Phật tử không thể nào không nhớ đến công lao của những người đã truy tìm và khôi phục lại giá trị văn hoá và tôn giáo của mảnh đất này.
Đồng thời đây cũng là cơ hội để chúng ta chiêm nghiệm về lẽ vô thường của đời sống. Mấy ngàn năm trước đây, mảnh đất này là nơi tranh chấp của biết bao nhiêu vương quốc, bộ tộc. Sự say mê quyền lực, tham vọng đất đai đã làm nổ ra bao nhiêu cuộc chiến tranh. Con đã giết cha, anh em đã giết lẫn nhau để giành lấy vương quyền. Cuối cùng, những vương quốc này rồi cũng bị xóa tên, những kinh thành lâu, đài tráng lệ cũng chỉ còn lại những đống gạch vụn hoang phế, những mảnh đất mà con người đã từng đổ máu ra để giành giật nhau cũng chỉ còn lại những cánh rừng hoang. Tất cả đều bị xóa mờ đi trong lớp bụi thời gian. Đứng trước lẽ vô thường này, chỉ có một nơi an trú duy nhất cho con người, đó là an trú trong Phật pháp.
Tài Liệu Tham Khảo:
- The Search for the Bud dha. The men who discovered India’s lost religion. Charles Allen. First Caroll & Graft Edition, 2003.