26/05/2026
Giữa vùng đất linh thiêng của Tây Ninh, nơi chân Núi Bà Đen nối dài cùng núi Phụng tạo thành những triền gió miên man, người Khmer xưa từ bao đời đã gọi nơi ấy bằng cái tên Khedol nghĩa là:
“Cánh đồng của gió.”
Bởi địa thế nơi đây rất lạ. Hai dãy núi dựng lên như bức thành thiên nhiên, tạo thành khoảng hút gió rộng lớn. Mỗi khi chiều xuống, gió từ rừng sâu và đồng bằng tràn về, luồn qua khe núi rồi thổi dài khắp cánh đồng, mang theo âm thanh trầm hùng của đất trời biên viễn.
Dưới chân vùng đất ấy, Chùa Khedol vẫn còn hiện diện như một chứng nhân lặng lẽ của thời gian, lưu giữ dấu tích giao thoa văn hóa Việt – Khmer nơi miền Đông Nam Bộ.
Nhưng với người dân bản địa, Khedol không chỉ là tên gọi của một vùng đất đầy gió.
Mà còn là một huyền tích gắn với những con người từng sống bằng nghĩa khí giữa thời buổi loạn lạc.
Tương truyền vào cuối thế kỷ XVII, khi miền đất Tây Ninh còn phủ kín rừng già và lau sậy, vùng Khedol xuất hiện một thủ lĩnh người Khmer nổi danh gan dạ. Ông làm chủ các toán nghĩa binh sống dọc theo tuyến rừng nối sang Chân Lạp.
Dân gian gọi ông là: Khedol — vị tướng của cánh đồng gió.
Sào trại của ông nằm khuất giữa rừng thốt nốt và những con suối quanh chân núi. Người qua lại vùng biên khi ấy đều e dè trước thanh thế của đoàn nghĩa binh Khedol. Thế nhưng, theo lời kể của các bậc cao niên, ông không phải hạng thảo khấu tàn bạo.
Trong thời buổi nhiễu nhương, Khedol cùng thuộc hạ giữ gìn đường rừng, bảo vệ dân lưu cư, chống lại những toán cướp hung hãn chuyên quấy phá dân lành. Nhiều đoàn thương hồ đi ngang vùng núi được ông cho người dẫn đường qua những đoạn hiểm trở. Những mùa hạn đói, nghĩa binh lại chia gạo muối cho dân nghèo quanh vùng.
Vì vậy, người dân Khmer và người Việt sống nơi biên viễn dần xem ông như một thủ lĩnh nghĩa hiệp hơn là một tướng cướp.
Cũng vào quãng thời gian ấy, Nguyễn Ánh trong những năm bôn tẩu tránh quân Tây Sơn đã nhiều lần vượt vùng Tây Ninh để sang Chân Lạp rồi cầu viện Xiêm La. Muốn đi qua đất biên thùy an toàn, phải được các thủ lĩnh địa phương thuận lòng.
Bên cạnh Nguyễn Ánh lúc đó có một người Khmer nổi tiếng tên là Tà Phí. Chữ “Tà” theo cách gọi xưa mang ý nghĩa kính trọng dành cho bậc lớn tuổi hoặc người có uy tín trong cộng đồng Khmer. Tà Phí là người thao lược, hiểu địa hình rừng núi và có tài thu phục nhân tâm.
Nghe danh Khedol, Tà Phí xin một mình tiến vào vùng cánh đồng gió. Người xưa kể rằng hôm ấy trời nổi gió lớn, cỏ lau nghiêng rạp dưới chân núi. Tà Phí chỉ mang theo đoản đao và cưỡi ngựa đi thẳng vào rừng sâu. Ba ngày liền không ai biết tung tích.
Đến ngày thứ tư, giữa tiếng gió rít dọc cánh đồng Khedol, vị thủ lĩnh Khmer dẫn toàn bộ nghĩa binh bước ra khỏi rừng rồi cúi mình trước Tà Phí xin quy thuận. Từ đó, Khedol nhận Tà Phí làm nghĩa phụ và cùng phụng sự dưới cờ nhà Nguyễn.
Sau biến cố binh đao, vùng đất Tây Ninh dần yên ổn. Tà Phí và Khedol không còn sống đời chinh chiến mà cùng dân khai mở đường rừng, giữ bình yên xóm làng, bảo vệ lưu dân và thương hồ qua lại miền biên giới.
Tương truyền những mùa mưa lớn, nước suối dâng cao cuốn trôi cầu gỗ, chính họ đã huy động dân binh dựng lại lối đi cho dân làng. Những toán cướp quấy phá dần biến mất, người dân an cư lập nghiệp dưới chân núi.
Bởi trọng nghĩa tình và ghi nhớ công lao ấy, người dân địa phương đã lưu lại tên của hai con người gắn với một thời mở cõi:
* Vùng đất nhiều gió mang tên Khedol,
* Cây cầu nơi Tà Phí từng bảo vệ dân làng được gọi là Cầu Trà Phí ( do cách phát âm của người dân nam bộ giọng cứng nên Tà thành Trà)
Trải qua bao thế hệ, hai địa danh ấy vẫn còn hiện diện trên đất Tây Ninh như một phần ký ức của miền biên viễn Nam Bộ — nơi văn hóa Việt và Khmer từng hòa quyện trong nghĩa khí, lòng trung hậu và tinh thần bảo bọc lẫn nha giữa những tháng năm mở đất phương Nam.